29 tháng 4, 2012

Tổng hợp về phôi thai của Haeckel P4 - Về cuốn sách của Johanathan Wells

Bình luận: Sau một năm nhìn lại thì thấy đây là phần rối nhất, khó đọc nhất, mà lại nhiều người xem nhất!! Tự hỏi xưa mình lấy đâu ra sức mạnh để dịch & biên soạn nguyên bài này khi giờ đọc cho hết cũng không nổi?? Dành cả buổi 17/10/2013 soạn lại hết loạt bài Haeckel để cáo lỗi với bạn đọc vậy!


Johnathan Wells: "Icons of Evolution - Những biểu tượng của tiến hóa"

Chợt tôi nhớ về một bài viết tên: 9 mánh lưu manh của Vichoco trên diễn đàn lichsuvn.info
Tự nghĩ thấy thay Vichoco bằng “người chống tiến hóa” (NCTH) thì cũng ổn lắm!
5/ Mánh thứ năm : Tiền đề áp đặt
Hình thức : để thảo luận vấn đề thì ít nhất phải có một điểm xuất phát chung . Hai bên phải đồng ý với nhau một số tiền đề nhất định để triển khai ra thành quan điểm lập trường của mình . NCTH mặc nhiên đem những điều mà chúng xem là đúng lồng vào dòng tranh luận . Mục đích : người đối thoại không nhận ra điều này nên vô tình là bị rơi vào "hệ thống" suy diễn của NCTH.

Ví dụ một số tiền đề sai bét bèn bẹt nhưng NCTH áp đặt mặc nhiên bất cần lý lẽ :”
_Thuyết TH trong nay mai sẽ bị bác bỏ.
_Phôi thai Haeckel là giả 100%.
_Cộng đồng KH chưa bao giờ nghi ngờ Piltdown man cho đến khi nó bị lật tẩy.
_Thuyết TH là vô thần/Cộng Sản.
_Thuyết TH ủng hộ lối sống lang chạ, vô đạo đức.
…”

          Mà cứ nhìn các nguồn trong bài báo của tờ tin180 thì biết ;) www.arn.org một trang chống TH, cứ vào đi, sẽ thấy nó trưng biểu tượng của các bạn hữu: http://www.intelligentdesign.org/ (thiết kế thông minh ;) ), IDEA (Intelligent Design and Evolution Awareness ) center ; “Những sai lầm chết người “điều mà những người theo thuyết tiến hóa không muốn bạn biết”, “Cuộc chiến lâu dài chống lại Thần” (ấy, nguyên văn nó là “The Long War Against God”, ai cũng biết chữ god viết thường là “thần” nói chung nhưng chữ god viết hoa đầu God là danh từ riêng Chúa Trời của Do Thái – Ki-tô giáo. Dù được trình bày cả cái tựa đều viết hoa đầu, nhưng trong văn phạm tiếng Anh nếu ý là “thần” thì phải là against a god hay against the gods. Vì thế chỗ này phải dịch là “Cuộc chiến lâu dài chống lại Chúa Trời”, niềm tin Ki-tô giáo, mong muốn bảo vệ va trò sáng tạo của Chúa Trời chính là nền tảng của phong trào Sáng tạo luận chống TH ở Mỹ) Henry Morris chính là cha đẻ của thuyết Thiết kế thông minh (Rằng vạn vật được thiết kế ra bởi một thế lực có tư duy nào đó, dễ thấy đây chỉ là Sáng Tạo Luận sơn phết lại cho bớt màu sắc tôn giáo…); và cuốn sách “Icons of Evolution - những biểu tượng tiến hóa” của Wells

Cả chương sách của Wells đã đặt cái tiền đề “Phôi thai Haeckel là giả 100%” như thể đúng rồi và sau đó bắt đầu cáo buộc các nhà viết SGK tội thông đồng cấu kết. Nhưng trong bài trước tôi đã nói, các hình vẽ của Haeckel tuy không chính xác nhưng không phải lừa đảo, vì thế ngay cả khi các SGK có đăng lại thì cũng không có phải tội đáng muôn chết – chỉ là chuyện dùng tư liệu lỗi thời, nhưng thật ra thì các SGK đã làm tốt hơn thế. Trong khuôn khổ bài viết chỉ xin bàn về các SGK được đề cập trong sách của Wells ở Mỹ.

Lần trước do nhu cầu cấp bách phổ biến kiến thức nên chỉ nói về các hình vẽ Haeckel. Nay xin bàn về Haeckel trong sinh học so sánh, thuyết lặp lại hình thái và các sách vở liên quan.

Ernst Haeckel và sinh học so sánh:

Haeckel vừa là anh hùng vừa là nhân vật phản diện trong cộng đồng sinh học. Ông là một hình tượng nổi bật trong lĩnh vực giải phẫu học so sánh và lừng danh vì các cây phân loại, các hình minh họa giải phẫu, sự ủng hộ nhiệt tình cho thuyết TH và cá tính mạnh mẽ của mình.
Có lẽ ông cũng nổi tiếng, và cũng bị hiểu sai nhiều như thế, vì những nghiên cứu phôi học và lời tuyên bố rằng “sự phát sinh cá thể lặp lại sự phát sinh loài”, gọi là Định luật sinh-di truyền (Biogenetic Law, hay ở Việt Nam SGK gọi là định luật phát sinh sinh vật). Haekel tán thành quan điểm rằng nói chung TH diễn ra bằng cách đặt một sự tiến bộ mới lên trên cái cũ, như thêm các lớp bánh. Vì thế phôi thai của một sinh vật “cao cấp” sẽ trải qua (tái hiện) các giai đoạn trưởng thành của các dạng “sơ khai” hơn khi nó phát triển. Tuy nhiên, các quan sát lặp đi lặp lại về quá trình phát triển của những người khác như Wilhelm His, Walter Garstang, Wilhelm Roux, Adam Sedgwick, Gavin de Beer, v.v; xem Gilbert ed. 1991, hay Gould 1977 để biết cụ thế) rõ ràng cho thấy các phôi thai không trải qua các giai đoạn trưởng thành của các dạng thấp hơn; mà, chúng có nhiều đặc điểm chung trong quá trình phát triển. Đã nhiều thập kỉ nay không nhà sinh học nào chấp nhận Định luật sinh-di truyền. Nhiều trong số các công trình về quá trình của Haeckel đã không còn hiệu lực. Những hình vẽ của Haeckel đã bị nhiều nhà khoa học đưa ra các lí lẽ có lí để lên án là bị làm lệch lạc để phù hợp với các quan điểm có sẵn của ông.

           Bất chấp độ chính xác hay các định kiến của Haeckel, phôi học so sánh vẫn tiếp tục là trung tâm hiểu biết của chúng ta về TH. Phôi học so sánh cho thấy các cấu trúctrưởng thành khác nhau của nhiều loài động vật cóchung những tiền thân ở giai đoạn phôi. Các đặc điểm phát triển chung này cho thấy động vật có tổ tiên chung. Phôi học so sánh sâu hơn còn cho thấy những động vật gẫn gũi thực hiện một sự nhất quán trong hướng phát triển, đặc biệt ở những giai đoạn sớm, và có chung nhiều đặc điểm phát triển hơn những sinh vật xa nhau. Việc một số cấu trúc phôi thai như các túi hầu tồn tại ở tất cả các phôi động vật có xương sống nhưng lại phát triển thành các cấu trúc trưởng thành rất khác nhau cho thấy chúng cùng chung một tổ tiên mà phôi của nó có túi hầu (ít nhất là ở một giai đoạn phát triển nào đó). Theo cách này, những nét giống trong quá trình phát triển được kế thừa từ một tổ tiên chung là tương đồng, y như các xương trong các chi trưởng thành.

Về Johnathan Wells
           Johnathan Wells là một tiến sĩ sinh học phát triển. Trong phần giới thiệu sách Biểu tượng, Wells nói ông bắt đầu nhận ra những vấn đề trong thuyết TH khi đang “hoàn thành bằng tiến sĩ trong ngành sinh học về tế bào và quá trình phát triển” (Wells 2000:xi). Ông khẳng định với chuyên môn của mình ông biết rằng các phôi thai có trong sách là sai, không lâu sau đó, ông khẳng định những quan sát của ông được các nhà KH khác ủng hộ. Trước sự kiện mấu chốt ấy, ông nói “Tôi đã từng tin vào mọi thứ có trong sách” (Wells 2000:xi). Tuyên bố này mâu thuẫn với những tuyên bố khác của Wells. Theo như tuyên bố ở bài viết này ở trang web của Unification Church, ông ấy đã mang sẵn quyết tâm tấn công TH trước khi bước vào trường cao học: “ Những lời của Cha, những nghiên cứu và những lời cầu nguyện của tôi đã thuyết phục tôi rằng tôi nên dành cả đời để tiêu diệt chủ nghĩa Darwin…” và ông tin rằng điểm yếu nhất của nó là môn sinh học về quá trình phát triển “Tôi đã bị thuyết phục rằng phôi học là gót chân Achilles của chủ nghĩa Darwin; người ta không thể hiểu sinh vật TH như thế nào nếu không hiểu chúng phát triển ra sao. Năm 1989, tôi học chương trình tiến sĩ thứ 2, lần này học về phôi học và TH”. 

              Vậy việc nhà sinh học Wells chống TH không phải do một sự khám phá bất ngờ là một kế hoạch định sẵn. Nếu đặt vào cùng tiêu chuẩn gọi là lừa đảo như với Haekel thì đúng, Wells đã lừa đảo ngay trong những trang đầu tiên trong sách. Từ đó theo logic của Wells ta suy ra tất cả những người theo STL có từng trích Wells đều lừa đảo và bản thân STL cũng là lừa đảo? Viết cho bạn đọc coi chơi chứ quá khứ của Wells chẳng có nghĩa lí gì trong vấn đề Haekel hay TH cả, vì không như ngụy KH, KH chân chính xem xét bằng chứng và lí lẽ mà thôi, cùng xem các luận cứ của Wells.

Các lập luận của Wells:

1) Darwin khen Haeckel, Haeckel lừa đảo => tiến hóa là giả!?

Wells mở đầu chương bằng cách kể độc giả nghe về suy nghĩ của Darwin về phát triển & tiến hóa, dẫn khoảng 5 câu từ sách “Nguồn gốc” để cho ta thấy Darwin ủng hộ thuyết lặp lại hình thái. Wells nói Darwin không phải nhà phôi học nên phải dựa vào Haeckel. Ai quen thuộc lịch sử sinh học đều biết điều này vô lý. Mãi tới tận năm 1866 Haeckel mới xuất bản Generelle Morphologie (chỗ mà những hình vẽ bị chỉ trích xuất hiện), 7 năm sau khi cuốn Nguồn gốc ra đời. Wells khéo léo dẫn những lời khen ngợi của Darwin dành cho Haeckel trong bản 6 và cũng là bản cuối của Nguồn gốc sao cho người ta không nhận ra rằng Darwin khen Haeckel về các cây phân loại chứ không phải các phôi. Câu dẫn còn chẳng nằm trong mục Phôi của cuốn sách mà nằm trong mục phân loại, trong câu cuối Darwin khen Haeckel biết dùng các đặc điểm tương đồng ( bao gồm nhưng không chỉ có các đặc điểm trong quá trình phát triển) để phân loại sinh vật. Ý Darwin đang khen Haeckel khéo áp dụng học thuyết của Darwin ;).

Darwin đã viết trong Về nguồn gốc của các loài rằng GS. Haekel “đã mang kiến thức và năng lực to lớn của mình để đóng góp vào cái ông gọi là ‘phát sinh loài’, hay các dòng dõi di truyền của mọi sinh vật. Trong quá trình vẽ ra nhiều chuỗi ông đã tin dùng chủ yếu các đặc điểm giai đoạn phôi.’ ” (i)

          Cả chương về phôi học của Wells không chứa gì nhiều hơn những hiểu lầm về Darwin, Haeckel…, cộng thêm việc không nói tới những công trình gần đây của Gould, Richardson và những người khác về Haekel và những cái phôi của ông. Trong sách, ông nhập làm một lịch sử sinh học về quá trình phát triển và sinh học về quá trình phát triển đương đại. Theo Wells: “Nhiều sách giáo khoa sử dụng một số hình vẽ các phôi của Haeckel. Một ví dụ là ấn bản năm 1999 của cuốn Sinh Học do Peter Raven và George Johnson soạn, kèm theo các hình vẽ đó, với chú thích như sau: Chú ý rằng các giai đoạn ban đầu của phôi các động vật có xương sống là rất giống nhau. Cuốn sách giáo khoa này cũng bảo học sinh: “Một trong số các bằng chứng giải phẫu ủng hộ thuyết tiến hóa mạnh mẽ nhất, là từ những so sánh cách thức phát triển của các loài sinh vật”. Wells cũng dẫn lời Darwin rằng phôi học là “lớp bằng chứng mạnh mẽ nhất” ủng hộ thuyết của ông. Ý của Wells khi dẫn câu này ra là muốn đánh đồng Haeckel – một nhà KH = một ngành KH, từ vụ Haeckel đè bẹp tất cả những gì sinh học so sánh về quá trình phát triển có thể mang đến cho thuyết tiến hóa.


Về mặt lịch sử, Wells chủ động phớt lờ những công trình có giá trị của nhiều người đi trước & cùng thời với Haeckel như William and Jeffrey Parker, Hans Gadow, Hans Selenka, Heinrich Rathke, Virgil Leighton, Hugo Schauinsland, Alfred Voeltzkow… ), ở TK 19 không chỉ có Haeckel hay von Baer là nhà phôi học, nhưng đọc sách Wells bạn sẽ không biết được điều đó đâu. Ông cũng không nhận ra gần 60 năm (còn đang tăng) thành tựu trong sinh học về quá trình phát triển và vì thế lờ tịt tất cả những bằng chứng tiến hóa từ ngành này. Gần như là mục tiêu của Wells là hạ uy tín toàn bộ ngành sinh học so sánh bằng cách ủy nhiệm, sử dụng chiêu treo đầu Haeckel bán thịt Darwin. Ý đồ của Wells làm ta liên tưởng đến kiểu logic trẻ con thế này: Haeckel có một công trình giả mạo trong sinh học so sánh, vì thế toàn bộ sinh học so sánh đều không đáng tin cậy; Darwin dựa trên Haeckel, Haekel lừa đảo, vì thế Darwin là kẻ lừa đảo.


Karl Ernst von Baer - Nhà phôi học nổi tiếng người Đức


Dù Darwin không dùng của Haeckel, ông có dùng von Baer. Nhận ra việc này, Wells liền cáo buộc Darwin “dùng sai” các công trình của von Baer, bóp méo dữ liệu cho phù hợp với quan điểm của ông. Nhưng Darwin không làm thế. Wells nói các luật phôi học của von Baer không phù hợp với các kết luận của Darwin, nhưng không phải thế. Có lẽ Von Baer sẽ không đồng tình với Darwin về các kết luận, nhưng những qui luật của ông thì không cấm việc quá trình phát triển có thể làm sáng tỏ nguồn gốc chung. Darwin đi tới một kết luận khác từ cùng một bộ phận bằng chứng – đây không phải là “bóp méo”. Darwin suy ra một lí luận qui nạp chung và tìm các dữ liệu có khả năng kiểm tra tuyên bố về tổ tiên chung. Nói đây là “dùng sai” thì Alfred Wegener cũng đã dùng sai các dữ liệu trong môn địa chất sẵn có khi ông dám xem xét chúng dưới thuyết trôi dạt lục địa (mobile continents). Thuyết mới luôn dùng dữ liệu cũ. Chẳng lẽ theo Wells sinh học tiến hóa không được dùng bất cứ nghiên cứu nào trước 1859?

2. Cố tình nhập nhằng "lặp lại hình thái" và "Tương đồng trong phát triển":

             Wells cũng gộp “lặp lại hình thái” – rằng phôi trải qua những giai đoạn trưởng thành của tổ tiên – với việc các đặc điểm chung của phôi cho biết thông tin về quan hệ trong hệ thống sinh của chúng. Việc không phân biệt 2 điều này giúp Wells có thể không phải đối mặt với những bằng chứng thực thụ về các điểm tương đồng trong quá trình phát triển của nhiều phôi. Chính đây là quan điểm chủ đạo trong chương này của sách Biểu tượng : Darwin & toàn thể NTTH ngày nay đều truyền bá “định luật phát sinh sinh vật – lặp lại hình thái”. Thực ra cái “lặp lại” mà các nhà phôi học hậu-Haeckel (VD như Frank Lillie) mà Wells đã dẫn cũng như các nhà phôi học đương đại chấp nhận là: Một bố phần trong chuỗi phát triển (và một số đặc điểm cụ thể của chúng) ở những động vật gần gũi có nhiều nét chung đặc biệt (về khuôn mẫu, thứ tự, vị trí v.v của các đặc điểm) với nhau hơn là với những sinh vật có quan hệ xa hơn. Nhưng Wells cứ làm như họ nghĩ y chang Haeckel. Đáng ra Wells – có bằng tiến sĩ sinh học tế bào & phát triển - phải hiểu biết nhiều hơn thế.

_Wells tấn công Darwin và các nhà phôi thai học thế kỷ 19 vì nói những giai đoạn “sớm nhất” trong quá trình phát triển tương tự nhau trong khi chúng không tương tự. Ờ Wells nói ĐÚNG đấy.


Bức hình đơn giản từ Nature này cho thấy sự khác nhau giữa lần lượt từ trái sang phải: ếch (đại diện cho lưỡng cư), cá, gà (đại diện cho chim, và có thể là cả bò sát nữa) và chuột (thú có vú). Lí do chủ yếu vì lượng yolk – noãn hoàn hay bình dân gọi là lòng đỏ của các động vật có xương sống khác nhau. Ta có thể thấy “điểm xuất phát của chuột” quá khiêm tốn so với những con khác – tế bào sinh dục của thú có vú nói chung rất nhỏ vì chúng không phải mang theo lượng dưỡng chất lớn cho phôi do sự nuôi dưỡng liên tục của mẹ - điều mà những con vật kia không có. Vì lòng đỏ không phân chia cùng với các tế bào trong trứng, vì thế sự phân bào của chúng phải khác nhau. Wells viết:
Nếu áp dụng thuyết Darwin vào sự phát triển sớm của động vật có xương sống mà đúng thì ta sẽ trông mong 5 lớp này giống nhau nhất khi mới là trứng đã thụ tinh; những khác biệt nhỏ sẽ xuất hiện trong quá trình phân bào, và các lớp sẽ khác nhau hơn nữa vào giai đoạn phôi vị” (Wells 2000:96).(ii)

Nhưng Darwin không hề đòi hỏi điều đó. Nhà sinh học – GS. Jerry Coyne nhận xét trên tờ Nature:

Chính Darwin nhận thấy rằng các phôi phải thích nghi với những điều kiện sống của chúng, và những giai đoạn đầu của các phôi động vật có xương sống cho thấy sự thích nghi với lượng noãn hoàng khác nhau trong trứng của chúng.” (iii)


"Sớm nhất” là Wells nói chứ không phải Darwin. Cả cuốn Nguồn gốc từ ‘sớm nhất’ chỉ xuất hiện duy nhất một lần và đó là Darwin dẫn lời von Baer. Wells cũng như nhiều học giả khác đã lẫn lộn giữa ý kiến cá nhân và trích dẫn từ người khác của Darwin. Nhưng thực ra ý Darwin không quan trọng. Cũng như phôi học hiện đại không dựa vào Haeckel, SHTH hiện đại cũng không sống chết với Darwin. Cũng cần phải biết về vấn đề thuật ngữ các nhà nghiên cứu KH thế kỉ 19. Khi đó các sinh vật đang phát triển không được coi là phôi đến khi đạt giai đoạn mầm đuôi (phylotypic) – đã có dáng vóc cơ thể. Trước đó, chúng là “trứng đang phát triển - developing ovum”. Nghĩa là ý Haeckel, von Baer và những người khác khi nói “phôi giai đoạn sớm”, ý họ không giống sự suy diễn bằng các định nghĩa hiện đại của Wells.

Với Tiếng Anh hiện đại, chữ “embryo – phôi” bao gồm cả những giai đoạn sớm nhất. Nhưng theo truyền thống KH của Đức, chủ yếu được thiết lập bởi von Baer, thì chữ phôi được giới hạn lại là một cơ thể chưa phát triển đầy đủ hay các giai đoạn sau (“embryo proper” – phôi hoàn thiện trong tiếng Anh). Điều này rất rõ trong các nhận xét của von Baer, VD “Mầm [“kleim”, đĩa phôi] trong quá trình phát triển của nó biến hóa thành 2 phần […] phần giữa hình thành phôi, còn phần lớn hơn nhiều bên ngoài thành Keimhaut [bì ngoài phôi]”

In present English usage, the term "embryo" includes even the earliest stages. The German tradition, however, largely established by von Baer, restricts the term "embryo" to the basic rudiment of the body or its later stages (the "embryo proper" in English usage). This is evident from many remarks by von Baer, for instance: "The germ ["Keim", blastodisc] during its growth transforms into two parts; [… ] the middle forms the embryo, the much wider periphery the Keimhaut [extraembryonic blastoderm]" (von Baer, 1828, p.44).
Klaus Sander and Urs Schmidt-Ott, 2004. "Evo-Devo aspects of classical and molecular data in a historical perspective," J. Exp. Zool. (Mol. Dev. Evo) 302B:69–91.





Từ tiền đề “sớm nhất” này Wells đã lệch hướng từ đó trở về sau, cất công soạn ra một loạt phát biểu của các nhà phôi học về việc không thể nào có chuyện giống nhau ở giai đoạn sớm nhất từ khi thụ tinh đến phôi vị chỉ để cuối cùng không trúng đâu hết vì 2 cái “sớm nhất” này không giống nhau.

Wells ‘tức giùm’ cho von Baer khi mà các sách cứ trưng hình của Haekel rồi bảo “hình vẽ này minh họa cho qui luật của von Baer” coi đây là một sự ‘sỉ nhục’ một nhà sinh học ‘thực thụ’ như ông – người chưa bao giờ chấp nhận thuyết tiến hóa xấu xa và đây lại là một chiêu lừa HS khác. Nhưng định luật của Haekel là “phát sinh cá thể lặp lại phát sinh loài” tức là theo đó phôi người trong quá trình phát triển sẽ đi theo đúng lịch sử tiến hóa: đầu tiên giống con cá, sau đó giống lưỡng cư rồi sau đó giống bò sát… 4 định luật von Baer tóm tắt như sau: sự phát triển của một sinh vật đi từ cái chung tới cái riêng và các phôi thuộc các lớp khác nhau trông rất giống nhau trong các giai đoạn sớm hơn nhưng trong quá trình phát triển càng về sau càng phân hóa (theo từ điển Merriam-Webster). Độc giả thân mến không cần bằng tiến sĩ sinh học chắc cũng thấy đúng là cái hình vẽ ‘tội đáng muôn chết’ kia dùng minh họa cho von Baer thì hoàn toàn hợp lí hơn là “phát sinh cá thể lặp lại phát sinh loài” nhỉ?

Vậy là, hình vẽ Haeckel và thuyết Haeckel thật ra ko liên quan trực tiếp cho lắm, nhưng trong suốt bài báo của tin180 đều có dấu hiệu nhập nhằng giữa thuyết lặp lại hình thái & các hình vẽ. Hình vẽ phản ánh hiện tượng đã quan sát được trong thế kỉ 19 là các phôi của các SV khác nhau có những điểm tương đồng và từ đó Haeckel với suy ra thuyết lặp lại hình thái để giải thích cho hiện tượng – và như tôi đã nói về vai trò của thuyết ngay từ những bài đầu của EvoLit: thuyết sai không có nghĩa là hiện tượng không có thật. Thuyết lặp lại hình thái sai hoàn toàn & đã bị bác bỏ từ lâu, nhưng các SGK vẫn có quyền dùng lại hình Haeckel đã vẽ; nhưng dường như cách viết của bài báo muốn tạo ấn tượng với độc giả rằng bất cứ nơi đâu hễ có hình vẽ của Haeckel thì thuyết lặp lại hình thái vẫn được dạy là đúng.
Quả đắng của “lý thuyết lặp lại hình thái” (đã mất uy tín khoa học từ lâu) liên tục lớn lên trong nhiều lĩnh vực của xã hội …
(Henry M. Morris, “Cuộc chiến lâu dài chống lại Thần”, Nhà xuất bản Master Books, 2000, trang 32)
Thật đáng kinh ngạc thay, những người theo phái tiến hóa vẫn phớt lờ sự thật và tiếp tục sử dụng những hình vẽ giả mạo của Heackel làm bằng chứng cho “sự tiến hóa”, vẫn duy trì chỗ đứng của chúng trong nhiều sách giáo khoa khác nhau. “

Lạ thay, trích dẫn câu trên rồi trích thêm câu này câu này:
Chắc chắn quy luật sinh học này đã chết hoàn toàn. Cuối cùng nó đã bị loại trừ khỏi các sách giáo khoa sinh học trong thập niên 50. Là một chủ đề của cuộc điều tra lý thuyết nghiêm túc, nó đã bị tuyệt chủng trong thế kỷ 20… ”.
(Keith S. Thomson, “Vòng đời của cá thể sinh vật và sự phát sinh loài,” đăng trên báo American Scientist, tập 76, tháng 5 và tháng 6 năm 1988, trang 273)

Tức tác giả biết Thuyết lặp lại hình thái đã RIP (an nghỉ vĩnh hằng) mà đồng thời tác giả lại cứ làm như là vẫn còn đang được dạy và công nhận trong các SGK!


3. Dã tâm tập thể của các "tín đồ (!?) tiến hóa" ?

Trong thực tế những hình minh họa giả dối của Haeckel vẫn được sử dụng trong các sách giáo khoa sinh học, cứ như thể chúng là bằng chứng của sự tiến hóa, một cách hết sức trắng trợn. Họ muốn tiếp tục đánh lừa cả loài người, bằng cách sử dụng cả hệ thống giáo dục, đầu độc trực tiếp tư tưởng và kiến thức của các học sinh ngay từ khi còn nhỏ tuổi.”

           Một âm mưu nghe thật rùng rợn. Nhưng nếu suy nghĩ theo hướng này thì các độc giả phải thắc mắc: đáng ra những người ủng hộ tiến hóa, vốn chiếm đại đa số trong các nhà KH, gồm những nhà sinh học giỏi nhất, uy tín nhất, những viện trưởng tai to mặt lớn, những chuyên gia hàng đầu, những tác giả nổi tiếng nhất trong mưu đồ lừa cả loài người thế này đáng ra phải hoạt động hoành tráng hơn. Nhưng số liệu cho thấy họ không tích cực lừa loài người lắm thì phải do một khảo sát gần đây trên 36 cuốn SGK sinh từ 1980 đến nay gồm SGK sinh phổ thông, sinh đại cương trong trường đại học, sinh nâng cao đại học và sinh chuyên về Quá trình phát triển cho thấy chỉ có 10 cuốn nhắc đến Haeckel & thuyết lặp lại hình thái. Mà hết 4 trong số đó là sách của mấy người theo Sáng tạo luận chứ không phải “tín đồ” tiến hóa (Gấu Trúc & con người, Sinh học cho các trường Công giáo, Khám phá tiến hóa, Thiết kế sự sống (Of Pandas and People, Biology for Christian Schools, Explore Evolution, the Design of Life) mất rồi! 6 cuốn chính thống còn lại thì 2 cuốn là sách nâng cao trình độ ĐH (vào ĐH và cấp 3 thường là cũng không nhỏ tuổi nữa). Mà trong hết thảy sách có nói đến Haeckel (trừ 2 cuốn của STL) thì không cuốn nào lặp lại sai lầm của ông cả. Về Haeckel, có một cuốn chỉ nói đến Haeckel trong phân loại, một cuốn chỉ nói: “ông là người đã đặt ra chữ ‘ecology – hệ sinh thái’”! Về những hình vẽ, 10 cuốn có dùng biểu đồ tương tự (khác với những khẳng định của Wells, chỉ có 1 cuốn có thể coi là vẽ lại nhưng cũng 10 cuốn khác dùng ảnh chụp hiện đại và có tới 15 cuốn không hề có hình đó).

             Thật ra tôi nghĩ cái nguyên nhân khiến các nhà xuất bản dùng lại tranh của Haeckel chẳng có gì sâu xa thâm độc như các bạn nghĩ, chẳng qua vì …kinh tế. Sách để giáo dục là chính nhưng NXB cũng phải có lời nhiều. Bây giờ muốn vẽ con heo con bò thì cứ nhớ trong đầu rồi vẽ ra cũng được nhưng minh họa sách khoa học thật là khổ: phải tìm họa sĩ không những vẽ giỏi mà có kiến thức sinh tương đối tốt, trả tiền một khoản lớn để thuê anh ta, tìm mẫu vật, sử dụng các thiết bị chuyên dụng, tham khảo ý kiến chuyên môn... một đoạn trong bài viết Pictures of Evolution and Charges of Fraud - Ernst Haeckel’s Embryological Illustrations của Nick Hopwood phần nào cho ta thấy không phải cứ muốn vẽ phôi là vẽ, đặc biệt ở thế kỉ 19 về trước:
Ngành phôi học sắp xếp các đối tượng thành các chuỗi trình tự phát triển. Cá thể, thường khó kiếm ở những giai đoạn mong muốn, được thu thập và bố trí thành các phôi. Những đối tượng nhỏ xíu này được chuyển hóa qua một loạt các thao tác giải phẫu, hiển vi và thẩm mỹ thành những hình ảnh rõ ràng mà loại đắt tiền nhất có thể truyền tải được cái sự tinh tế, mềm mại mờ ảo của chất sống. Những thao tác này cô lập phôi khỏi môi trường, cả liên kết với cơ thể mẹ. Những hình và mẫu thu được được sắp xếp theo trình tự phát triển, các đại diện bình thường được chọn và chuỗi được xuất bản hay trưng bày. Chuyện này tuyệt đối không hề dễ dàng ngay cả với con gà, “thân trâu ngựa” trong nghiên cứu phôi; với các phôi người sớm mà các nhà giải phẫu chủ yếu lấy từ các ca phá thai (ngày xưa ca sớm nhất là ~ 2 tuần tuổi) thì phải nói là cực kì khó. Tìm ra mối liên hệ giữa các chuỗi còn khó hơn thế nữa!” (iv)

          Sẵn có tranh của Haeckel (1866) xuất bản trước 1923 nên giờ đã trở thành “của chung” (public domain) theo luật bản quyền mà các NXB có thể xài mà không cần trả đồng nào hết thì những nhà tư bản đứng đầu các NXB sẽ làm gì và đã làm gì thì bà con thấy rồi đấy :( .

Và chúng ta cũng nên nhớ AI mới là người “phanh phui” vụ Haeckel? Không phải là người theo STL hay NCTH; mà là Richardson, là Gould – những nhà sinh học thực thụ, những “tín đồ” tiến hóa. Gould là một trong những người chỉ trích Haeckel kịch liệt nhất nhưng lại cũng là một trong những nhà sinh học tiến hóa tiêu biểu nhất, người ra sức bảo vệ tiến hóa nhất trong TK 20. Sao lại có hành động mâu thuẫn đó nhỉ? Câu trả lời là hành động đó không có gì mâu thuẫn, đó chỉ là hoạt động khoa học. KH là quá trình tìm hiểu cái mới song song không ngừng kiểm tra và thử thách cái cũ. KH có cái bản chất rất… khoa học ;) là tự sửa lỗi (self-correcting nature), tất cả những kiến thức bây giờ ta đã biết là không đúng từng được KH chấp nhận đều bị đạp đổ bởi chính KH. KH là cái khoảnh khắc vui buồn lẫn lộn trước…

Cái bi kịch vĩ đại của Khoa học – việc khai tử thương tâm một giả thiết đẹp đẽ vì một sự thật đáng ghét” - "The great tragedy of Science - the slaying of a beautiful hypothesis by an ugly fact."
-- Thomas Henry Huxley


           Sau đó thì sao? Họ vẫn là những người ủng hộ tiến hóa. Richardson: “Dữ liệu từ trong môn phôi học hoàn toàn phù hợp với TH Darwin” (đã dẫn ở P2 của chùm bài), Gould: “Hiện tượng tiến hóa đã được xác minh rõ như bất kì điều gì khác trong KH (chúng ta chắc về nó như chắc rằng trái đất quay quanh mặt trời), dù cho sự chắc chắn tuyệt đối không có trong từ điển của chúng ta (v). Rõ ràng họ không phải hạng bưng bít thông tin. Họ là những người trung thực và hơn hết là có chuyên môn, họ đã nhìn thấy cái sai của Haeckel và hiên ngang chỉ ra điều đó mà không thấy có bất cứ vấn đề gì với quan điểm tiến hóa của mình.

           Wells cũng tố cáo Haeckel và ngành phôi học so sánh cố tình chọn những con vật trông giống nhau nhất. Ông phê bình Haeckel sao lại không chọn những con vật như thú đơn huyệt để minh họa. Nhưng các giai đoạn phát triển của thú đơn huyệt chưa được biết tới vào năm 1866 mà phải mãi đến tận 1884. Cũng chính từ những điểm tương đồng trong quá trình phát triển của thú đơn huyệt có với thú có túi mà Caldwell kết luận chúng là thú có vú (Caldwell 1887). Vào thế kỉ 19 hầu hết các mẫu vật thú lạ được đưa đến các nhà nghiên cứu trong tình trạng đã phân hủy. Haeckel có thiên vị không? Có, và tất cả những nhà phôi học ngày ấy đều thế, họ sẽ chọn những con vật: sẵn có nhất, cỡ nhỏ, lứa to, mau thành dục, sinh sản nhanh, có khả năng phát triển trong phòng thí nghiệm nhiều đời (Bolker, 1995) chứ không phải để “chống đỡ tiến hóa” như Wells ngụ ý. Chính Wells cũng chọn những sinh vật mẫu ở phần sau của chương và không chỉ ra trình tự phát triển của bất kỳ loài nào mà ông phê bình rằng những người khác không đề cập. Vì sao? Bởi vì ông ta không có bằng chứng cho khẳng định rằng các nhà phôi học sàng lọc dữ liệu để giấu giếm gì đó. Việc các nhà phôi học thường trình bày, ít nhất trong SGK, những trình tự phát triển có dữ liệu căn cứ tốt nhất thì có gì mâu thuẫn với việc những phân loại gần gũi có thể, và đúng là có, nhiều điểm tương đồng trong quá trình phát triển hơn những loài xa?

Tóm lại là Wells thấy có 3 điểm “lừa đảo” trong các hình vẽ Haekel:
(1) Chỉ bao gồm những lớp và bộ hợp với thuyết của Haekel nhất – ở đoạn trên; (2) Bóp méo hình ảnh phôi – có hay không thì tôi đã trình bày trong phần 1,2,3 của chùm bài đặc biệt dài này; (3)Nghiêm trong nhất là, hoàn toàn phớt lờ những giai đoạn sớm hơn mà các động vật có sương sống trông rất khác nhau. (vi)

20 hình trong Anthropogenie
           Trái với cáo buộc của Wells, Haeckel không hề làm như không có những khác biệt của “những giai đoạn đầu” của phôi – theo định nghĩa mới – mà ông đã dành hẳn 20 hình trong Anthropogenie để miêu tả các phôi dạ (phôi vị). Hình dưới đây ông vẽ các phôi của các động vật khác nhau từ giai đoạn trứng đến phân chia (cleavage) rồi đến phôi vị (gastrula). Theo Wells thì Haeckel thì vẽ kĩ thế làm gì, vạch áo cho người xem lưng?







Hình minh họa trong sách của Wells
Trong các hình chụp phôi thai (Wells 2000:95 đặc biệt là giai đoạn 4, “gastrulation – sự hình thành phôi dạ”) của Wells dưới đây có dùng vài tiểu xảo hình ảnh để làm phôi trông khác nhau hơn thực tế: 1. Các phôi không được thể hiện ở cùng góc quay. Con gà ở tư thế khác của Haeckel. 2. Chúng không có cùng cỡ. Trong hình cho thấy mỏm thần kinh gấp vào, con rùa và gà được thể hiện cỡ lớn, bỏ qua cái noãn hoàng lớn ở dưới chúng trong khi con người được thể hiện như một phần của cả cái trứng đang phát triển để mà sự hình thành đĩa phôi (germinal disc) và dải mầm (primitive streak) trông khác nhau, dù chúng có ở tất cả những động vật có màng ối (Schaunislaund 1903Nelson 1953Cruz 1997Schoenwolf 1997). Còn có cả hình vẽ phôi ếch mặc dù ếch trải qua sự phát triển gián tiếp, rất khác với những loài có xương sống còn lại. Rất nhiều những “sự khác biệt” chung chung trong quá trình phát triển phôi sớm mà Wells đề cập là kết quả của sự sắp xếp tùy theo lượng noãn hoàn chứ không phải là sự khác biệt đặc thù về kết cấu cơ thể của phôi (Arendt and Nübler-Jung, 1999).

Và chính Wells đang tố cáo Haeckel “chơi chiêu” “chọn lọc hình ảnh” “Thổi phồng sự thật”!

EvoLit: Tới đây thì các lập luận của Wells đã được phản biện. Các bạn có hứng thú hơn có thể xem phần mổ xẻ các SGK dưới đây để xem "âm mưu" của các "tín đồ TH" đầu độc trẻ em trên 18 tuổi khủng khiếp như thế nào ;)




Xem chi tiết

Mổ xẻ các SGK

Vì tôi không có điều kiện lấy hết các SGK Mỹ mà Wells đã đề cập nên chỉ dựa vào các bản xem xét (review) có sẵn cũng như kết quả cuộc khảo sát nêu trên. Nhưng có một cuốn ngay trong tầm với đây là SGK của … Việt Nam nên chúng ta coi kĩ tí nhé. Phân tích tỉ mỉ này tôi lấy từ diễn đàn www.thienvanhoc.org:
Đúng là tài liệu của Haeckel có dùng trong Sách vở, kể cả ở VN mình. Từ SGK sinh nâng cao 12, trang 130, 131:

1 . Sự giống nhau trong phát triển phôi
Phôi của các động vật có xương sống thuộc những lớp khác nhau, trong những giai đoạn phát triển đầu tiên đều giống nhau về hình dạng chung cũng như quá trình phát sinh các cơ quan. Chỉ trong những giai đoạn phát triển về sau mới dần dần xuất hiện những đặc điểm đặc trưng cho mỗi lớp, tiếp đó là những đặc điểm của bộ, họ, chi (giống), loài và cuối cùng là cá thể. (Lưu ý là SGK chỉ bảo là giống nhau về 
hình dạng chung và quá trình phát sinh các cơ quan thôi)
Hình 32.2. Sự phát triển phôi của một số loài động vật có xương sống (là hình vẽ, và đúng là vẽ phôi ở giai đoạn đầu giống giống nhau như hình của Haeckel, nhưng cũng chỉ giống ở chỗ là đều cong cong thôi chứ không vẽ kĩ như hình của Haeckel)

[...]

Sự giống nhau trong phát triển phôi của các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau là một bằng chứng về nguồn gốc chung của chúng. Những đặc điểm giống nhau đó càng nhiều và càng kéo dài trong những giai đoạn phát triển muộn của phôi chứng tỏ quan hệ họ hàng càng gần.

2. Định luật phát sinh sinh vật:
Đacuyn đã nhận xét: Trong quá trình phát triển phôi, mỗi loài đều diễn lại tất cả những giai đoạn chính mà loài đó đã trải qua trong lịch sử phát triển của nó. Dựa trên nhận xét này và một số công trình nghiên cứu khác, hai nhà khoa học Đức là Muylơ (Muller) và Hêcken (Haeckel) đã phát biểu định luật phát sinh sinh vật (1886): "Sự phát triển cá thể phản ánh một cách rút gọn sự phát triển của loài".

Phôi người đến 18 - 20 ngày tuổi vẫn còn dấu vết các khe mang ở phần cổ giống như cá sụn; tim lúc đầu chỉ có một tâm thất, một tâm nhĩ như ở cá, sau đó tâm nhĩ chia làm 2 giống như ở ếch nhái, cuối cùng mới thành tim 4 ngăn giống như chim và thú. (Cái này thì đúng đây)
[...]
[...] 
Tuy nhiên, không nên hiểu là sự phát sinh cá thể lặp lại đúng trình tự các giai đoạn trong lịch sử phát triển chủng loại một cách cứng nhắc.(<= bị quăng gạch nhiều như SGK VN ta mà còn nói là không đúng tuyệt đối mà :D - EvoLit)
Cái hình minh họa cho sự khác nhau hoàn toàn giữa phôi của động vật có vú, của loài bò sát và của loài dơi (trong bài báo gốc trên tin180 - SV) là hình phôi về sau rồi, không thể là phôi ở những giai đoạn đầu tiên được, vậy nên không có giá trị minh chứng.

Trích:
"Ví dụ, những năm đầu tiên của phôi thai người không bao giờ có mang có chức năng như một con cá, và không bao giờ trải qua các giai đoạn nào trông giống như một loài bò sát trưởng thành hoặc là một con khỉ”. – (Elizabeth Pennisi, bài báo “Những cái phôi của Haeckel: Trò gian lận đã bị phát hiện lần nữa”, đăng trên tờ báo Science, 5 tháng 9 năm 1997)"
---> Ông Haeckel chỉ bảo là có cùng hình thái chứ đâu nói có cùng chức năng. Trong SGK của ta cũng có một đoạn thế này:

Trong giai đoạn về sau, ở cá và ấu trùng lưỡng cư, các khe mang biến thành mang, còn ở phôi các động vật có xương sống ở cạn thì khe mang tiêu biến. Phôi các động vật có xương sống đều trải qua giai đoạn có dây sống, về sau dây sống biến thành cột sống sụn rồi cột sống xương. Trong khi phôi ở cá xuất hiện các vây bơi thì ở thằn lằn, thỏ, người lại xuất hiện các chi năm ngón. Đặc biệt, ở phôi người, phần hộp sọ chứa bộ não rất phát triển còn đuôi thì tiêu biến. (À, phần "đuôi" còn sót lại của chúng ta chính là phần xương cụt đó )

Còn về phần giải thích cho sự tiến hóa của sinh giới, SGK dựa trên các bằng chứng về giải phẫu và phôi sinh học so sánh, bằng chứng địa lí sinh học, bằng chứng tế bào học và sinh học phân tử. Vậy nên theo em nghĩ SGK cũng không sai lệch bao nhiêu (thật ra quyển sinh nâng cao này còn bị phàn nàn về nhiều lỗi lắm). Hình vẽ thì đúng là sách của ta vẫn đưa vào, nhưng do họa sĩ ta vẽ lại, không đến nỗi giống quá nhiều như hình gốc.

*Về các sách Mỹ:
SGK nào mà bê nguyên xi hình vẽ của Haekel hay cổ vũ “lặp lại hình thái” theo trường phái Haekel thật quá tệ, nhưng không cuốn nào Wells đã phê bình làm thế hết. Wells vui vẻ tùng xẻo Futuyma vì dùng tranh của Haekel, nhưng trong niềm hân hoan ấy dường như ông đã quên đọc chữ trong sách, nơi mà những hình vẽ này được nói đến trong hoàn cảnh lịch sử - giải thích vì sao Haekel lại sai – và Futuyma dành hẳn nguyên một chương để nói về phát triển & tiến hóa. Guttman cũng dùng chúng hoàn toàn trong hoàn cảnh lịch sử. Wells bảo các cuốn sách dùng “Hình vẽ của Haekel, hoặc các bản vẽ lại của chúng) (Wells 2000:255), nhưng điều này không đúng. Hình sau đây là ảnh chụp lại các hình minh họa trong một số SGK trong bảng chấm điểm của Wells. Có thể thấy đa số không phải là vẽ lại: vài cuốn trưng hình vẽ đúng hơn, vài cuốn dùng ảnh chụp; chỉ có Starr & Taggart (và Raven & Johnson trong chương phát triển của họ đi kèm với các bức tranh và ảnh chụp chính xác) là có thể coi là vẽ lại từ Haekel; còn 2 cuốn chính xác là bê nguyên xi thì lại là của Futuyma và Guttman, như đã nói ở trên là 2 cuốn đưa hình vẽ vào để phân tích cái sai của Haekel và Guttman nói rõ là hình chỉ “đúng phần nào – partly true”. Không có cuốn nào nói về phôi học có thể xem như “theo trường phái lặp lại hình thái cả”. Hầu hết sách phần phôi học này chỉ được trình bày một hai đoạn, vì thế khó mà bàn tới hết tất cả những điều phức tạp trong quá trình phát triển. Ở trình độ phổ thông, mục tiêu của sách là truyền tải vài khái niệm cơ bản về sinh học, chứ không phải làm rối HS bằng sự phức tạp của môn học này.


Bảng chấm điểm “được nghiên cứu kỹ” của Wells:

Wells thiết kế hẳn 1 hệ thống chấm điểm cho các SGK, không chỉ riêng về Haeckel mà còn những biểu tượng khác. Nhưng hệ thống này thất bại vì Wells cho rằng tất cả những hình vẽ đều là vẽ lại và bất cứ sách nào có 1 hình vẽ lại đều ăn điểm F (hình dưới). Wells không giải thích thế nào mới gọi là ‘đơn thuần vẽ lại’ của Haeckel. Sử dụng hình ảnh chính xác hơn chỉ thu về được 1 điểm D. Muốn được C hay hơn, cuốn sách KHÔNG được dùng ‘ những tranh vẽ hay ảnh chụp dễ gây hiểu lầm’ Điều này nghĩa là than phiền rằng SGK không nên để bị gây hiểu lầm bởi thực tế! Wells không nói tranh vẽ hay ảnh chụp như thế nào mới gọi là không gây hiểu lầm. Hay Wells nghĩ rằng tất cả những trình diễn hình ảnh về phôi đều là gây hiểu lầm, dù chúng có đúng hay không? Ông công kích Mader và Campbell, Reese, & Mitchell, vì dùng “ảnh chụp gây hiểu lầm” & lặp lại trò lừa số 1 của Haekel, bởi vì chúng cho thấy phôi của một con thú có vú (heo\người) và một con gà, mà theo ông là “ ‘tình cờ’ trông giống thú có vú hơn bất cứ lớp nào động vật có xương sống nào khác vào giai đoạn đó - just happens to look more like a mammal than any other class of vertebrate at that stage (Wells 2000:104)” Sai: Ở giai đoạn đó phôi gà sẽ giống cá sấu hơn là thú có vú (sự so sánh này được đưa ra bởi Nelson 1953Schaunislaund 1903, và Reese, 1915). Điều này phù hợp với những dự đoán của thuyết tiến hóa, bởi vì cá sấu và gà có tổ tiên chung gần với nhau hơn gần với thú có vú, và vì thế nên có chu trình phát triển tương tự hơn. Wells cũng khiển trách Mader vì đã viết rằng các phôi “có nhiều điểm chung” "have many features in common" (Wells 2000:103-104). Vậy ý Wells là chúng không có điểm chung nào sao? Nếu thế, ông ấy nên dẫn chứng điều đó. Vì không làm được điều này, Wells cứ gán cho bất cứ thứ gì ông ấy không thích là ‘gây hiểu lầm’.

Một sự hiểu lầm - hay cố tình ko hiểu- phổ biến của những NCTH: "Chúng (khe mang) chẳng liên quan gì đến thở cả". Chẳng ai nói đó là mang thật và dùng để thở hết!

            Wells cũng đặc biệt không vui vì chữ “khe mang” - là thuật ngữ không chuyên để chỉ các túi hầu (pharyngeal pouches). Wells ngụ ý là khi dùng chữ này thì các sinh học và SGK đang nói rằng tất cả phôi động vật đều có “mang”. Điều này sai, thậm chí không có cuốn nào ngụ ý về sự hiện diện của mang trong phôi cả. Wells cố khẳng định rằng “Cách duy nhất để thấy cấu trúc ‘giống mang’ ở người là nhồi tiến hóa vào quá trình phát triển - The only way to see ‘gill-like’ structures in human embryos is to read evolution into development”. Nhưng chính Wells cũng nói chúng chỉ giống mang ở chỗ tạo nên những mẫu vạch giống nhau ở vùng cổ– đó không phải là ướm trước tiến hóa, đó là một lí do chính đáng để gọi là “khe mang”! Dĩ nhiên là sau đó ta phải hỏi xem vì sao phôi người cũng như tất cả động vật có xương sống lại có cấu trúc như vậy và chính cái điểm chung này là bằng chứng tiến hóa chứ không phải tên gọi. Tuy nhiên dùng từ “khe mang” sẽ ngay lập tức ăn điểm C dù cho sách không chứa hình nào hết và cũng không cần biết nội dung. Campbell, Reese, & Mitchell và Guttman đều dành cả chương dành để nói về sinh học phát triển trong đó họ  nói về “những khác biệt giai đoạn sớm” mà Wells ngụ ý họ không làm. Họ không được thêm điểm nào hết vì những cách xử lý vấn đề trên.

Figure 11
Book
Phôi học
#trang
#t
Cách thể hiện phôi
Điểm
Schraer, W. D. and H. J. Stolze. 1999. Biology: The Study of Life, seventh edition. Prentice-Hall, Upper Saddle River, NJ. 944p.
1/4
108
Vẽ lại (có sửa chữa)
F
Johnson, G. B. 1998. Biology: Visualizing Life. Holt, Rinehart & Winston, Orlando. 895p.
1/4
78
Vẽ
F
Biggs, A., C. Kapinka, and L. Lundgren. 1998. Dynamics of life. Glencoe/McGraw Hill, Westerville, OH. 1119p.
1/2
96
Vẽ
F
Miller, K. R. and J. Levine. 2000. Biology, fifth edition. Prentice-Hall, Upper Saddle River, NJ. 1114p.
1
324
Vẽ
F
Starr, C. and R. Taggart. 1998. Biology: The Unity and Diversity of Life, eighth edition. Wadsworth Publishing Company, Belmont CA. 920p.
1/2
282
Vẽ lại
F
Guttman, B. S. 1999. Biology. WCB/McGraw-Hill, Boston. 1175p.
1/2 +1
265
Haeckel/ Vẽ /ảnh
F1
Mader, S. 1998. Biology, sixth edition. WCB/McGraw-Hill, Boston. 944p.
1/4 +1/3
109 +86
Ảnh/ Vẽ
D2
Raven, P. H. and G. B. Johnson. 1999. Biology, fifth edition. WCB/McGraw-Hill Boston. 1284p.
1/4 +1/3 +1/2
83 +170 +271
Ảnh/
Vẽ /
Vẽ lại
F
Cambpell, N. A., J. B. Reese, and M. G. Mitchell. 1999. Biology,fifth edition. Benjamin Cummings, Menlo Park, CA. 1175p.
3/4 +3
247 +3
Ảnh/ Vẽ
D3
Futuyma, D. 1998. Evolutionary Biology. Sinauer Associates, Sunderland, MA. 761p.
26
(1.5)4
5614
Haeckel (trong hoàn cảnh cụ thể)
F5
1. Guttman dành hẳn 2 chương để nói về quá trình phát triển. Thêm một phần bàn luận thấu đáo và cập nhật (Ch 20, 21 tr. 397-441) về những “những khác biệt giai đoạn sớm” mà Wells điểm của Wells gây cảm giác là nó không làm.
2. Mader dùng thuật ngữ “túi hầu” thay vì cái từ “khe mang” báng bổ nhưng bảng điểm không có đường nào để tính điểm tốt này vào.
3. Sách này còn có hẳn 1 chương để nói về quá trình phát triển (Ch 47 tr.936-960) và bàn về về những “những khác biệt giai đoạn sớm” mà Wells điểm của Wells gây cảm giác là nó không làm.
4. Futuyma dành hẳn 1 chương để nói về quá trình phát triển & tiến hóa (Ch 23 tr 651-676) trong đó 1.5 trang dành riêng Haeckel.
5. Futuyma chỉ dùng hình vẽ Haeckel trong bối cảnh lịch sử. Nó cũng nói rõ “khe mang” hay “cung” không phát triển thành mang, và chúng chẳng có gì tiến gần hơn tới mang trong quá trình phát triển. Bảng điểm của Wells không có cách nào để đưa những vấn đề về ngữ cảnh này vào.

Muốn xem kĩ các hình hơn ở đây. Đừng thấy chữ Discovery.org mà nhầm hàng thành kênh Discovery lừng danh nhé, trang này của Discovery Institute – Học viện Khám Phá của những người theo STL. Tên kêu thế nhưng quanh năm suốt tháng họ chẳng đưa ra được khám phá nào mới, họ chỉ tập trung công kích tiến hóa & việc giảng dạy tiến hóa và tìm cách tuồn tài liệu tôn giáo vào các trường công lập còn việc khám phá/ nghiên cứu KH thì chủ yếu là do các “tín đồ” tiến hóa làm ;).

Trích dẫn và tham khảo:




Ẩn/Hiện nội dung
Tham khảo
Trích dẫn (i)


Darwin wrote in The Origin of Species that Professor Haeckel «brought his great knowledge and abilities to bear on what he calls phylogeny, or the lines of descent of all organic beings. In drawing up the several series he trusts chiefly to embryological characters.» ” (Wells 2000:82).(ii)

If the implications of Darwin's theory for early vertebrate development were true, we would expect these five classes to be most similar as fertilized eggs; slight differences would appear during cleavage, and the classes would diverge even more during gastrulation.

(iii)

"Darwin himself noted that embryos must adapt to the conditions of their existence, and the earliest stages of vertebrate embryos show adaptation to widely varying amounts of yolk in their eggs."
Jerry Coyne, 2001. "Creationism by Stealth," Nature, 410, p. 475-476

(iv)
"Embryology organized its objects by making developmental series. Specimens, often
difficult to obtain at desired stages, were collected and framed as embryos; some had
previously been interpreted in very different terms—for example, as children to come or
as waste material. The tiny and initially unprepossessing objects were transformed through
sequences of anatomical, microscopical, and artistic operations into clear images, of which
the most expensive conveyed some of the soft, translucent delicacy of the living material.
These procedures isolated embryos from other contexts, including connections to pregnant
women. The resulting pictures and models were arranged in developmental order, normal
representatives selected, and the series prepared for publication or display. This was far
from trivial even for the chick, the workhorse of embryological research; for the early
human embryos that anatomists mostly obtained from abortions (the youngest then known
were estimated at about two weeks old) it was extremely hard. Working out the relations
between the series for different species was even harder."
(v)
 The fact of evolution is as well established as anything in science (as secure as the revolution of the earth about the sun), though absolute certainty has no place in our lexicon..” (Darwinism defined, the difference between fact and theory - Stephen Jay Gould)

(vi)

(1) they include only those classes and orders that come closest to fitting Haeckel's theory; (2) they distort the embryos they purport to show; and (3) most seriously, they entirely omit earlier stages in which vertebrate embryos look very different. (Wells 2000: 102)”

28 tháng 4, 2012

Tổng hợp về phôi thai của Haeckel P3 - Haeckel bị kết tội??


            Haeckel chưa bao giờ thực sự bị buộc tội lừa đảo. Cụ thể những người chống tiến hóa (NCTH) thường bảo là năm 1874, bởi His. Điều này không đúng. Chính Richardson, nguồn cơn của những sóng gió gần đây, đã viết: “Những người buộc tội Haeckel trong quá khứ gồm His (ĐH Leipzig), Rütimeyer (ĐH Basel) và Brass (chủ tịch hội các nhà KH đạo Tin lành ở Keplerbund). Tuy nhiên những nhà phê bình này đã không đưa ra được bằng chứng thuyết phục ủng hộ cho luận điệu của họ.”(Richardson et al. 1998, p. 984)

             Chẳng có bằng chứng gì cho lời đồn cả, rất tiếc nó được sử dụng rộng rãi trong tranh luận đến mức người ta tưởng nó là thật!VD, Richardson đã lặp lại rằng Haeckel đã nhận tội lừa đảo trong một trong số các bài báo (Richardson 1997, p.30) (Anon. Ed. 1997, p.23) sau khi đọc thấy điều đó trong một bản tin ở Anh (Hamblin & Moore 1997, p.18). Câu chuyện này, và việc Richardson đã dùng lại nó, đã bị chất vấn bởi 2 nhà sinh học Đức trong một bức thư gửi tờ Science (3):
Đối với vài người trong bọn họ [những người chống thuyết Darwin] mọi hạng lập luận phỉ báng đều được hoan nghênh. Ngày nay điều này vẫn đúng, bằng chứng là những khẳng định gần đây trong báo chí Anh rằng Haeckel đã bị buộc tội bởi trường ĐH của ông vì lừa đảo. Khi được yêu cầu dẫn nguồn, một trong 2 tác giả tử tế chỉ chúng tôi xem một cuốn sách có nội dung phản đối nguồn gốc con người là từ linh trưởng (rốt cuộc lại chẳng có gì liên quan vụ Haeckel), trong khi người kia không trả lời những yêu cầu của chúng tôi luôn. Bởi vì, theo như chúng tôi được biết, không có nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy nào đề cập việc kết tội Haeckel, chúng tôi kết luận rằng lời khẳng định đó toàn dựa trên lời đồn đại chứ không phải là thật (Sander & Bender 1998, p.349)” (i)

Richardson

             Chính Michael Richardson cũng nhận ra lỗi của mình trong việc dẫn câu chuyện không hề được ghi nhận này và một thời gian ngắn sau rút lại lời dẫn ấy:
Tôi cảm thấy lo khi biết có lẽ mình đã tiếp tay duy trì một lời đồn của những người theo Sáng tạo luận [STL- Creationism; những người tin rằng vũ trụ và vạn vật là do Thiên Chúa trong Kinh Thánh tạo ra - SV]… Lời khẳng định rằng Ernst Haeckel đã bị cáo buộc lừa đảo được đưa ra trong tờ The Times. Tôi đã dựa vào lời khẳng định ấy trong một ấn phẩm sau đó mà không tìm hiểu nguồn gốc – Rõ ràng đó là lỗi của tôi” (Richardson 1998a, p.1289) (ii)


           Không có bằng chứng nào chứng tỏ Haeckel từ bị kiện tội lừa đảo ở tòa án ĐH Jena, càng không có bằng chứng ông bị phán có tội. Dường như đây lại là một lời đồn lì lợm của những người theo STL, như chuyện Darwin cải đạo lúc lâm chung. Nếu những người chống TH muốn dùng khẳng định này, họ có trách nhiệm phải dẫn nguồn đến những tài liệu gốc chứng minh điều đó. Theo như chúng ta biết họ chưa từng làm được như vậy.

           Tạm thời hãy quên những lời dẫn của những người theo STL. Hãy để Richardson tự nói về công trình của mình và chuyện của Haeckel:
Dữ liệu từ trong môn phôi học hoàn toàn phù hợp với TH Darwin. Những hình vẽ nổi tiếng của Haeckel là một cause célèbre ( tạm dịch: tin hỷ) cho những người theo STL. Những bản cũ nhất (của những hình vẽ ấy) cho thấy những phôi thai nhìn gần như giống hệt nhau giữa những loài có xương sống. Ở mức độ căn bản, Haeckel đã đúng: tất cả các loài vật có xương sống phát triển theo cùng một sơ đồ (bao gồm nguyên sống, các phần cơ thể, các túi hầu v.v). Hướng phát triển chung phản ánh lịch sử TH chung. Nó cùng phù hợp với tràn ngập những bằng chứng gần đây rằng sự phát triển của những động vật khác nhau được điều khiển bởi những cơ chế di truyền giống nhau” (Richardson, et al., 1998."Haeckel, Embryos and Evolution." Science, 280, p. 983) (iii)



            Tiếng Anh có thành ngữ “Make a mountain out of a molehill”, dịch nghĩa đen là từ đống đất nhỏ xíu chuột chũi đùn mà phóng đại lên thành ra cả một ngọn núi. Đó chính xác là chuyện bài báo trên tờ tin180 làm. Sự trầm trọng của sai lầm của Haeckel đã bị thổi phồng lên trong bài báo của Science và thổi phồng một lần nữa trên tờ tin180. Haeckel chỉ đơn giản là vẽ không hoàn toàn chính xác, nhưng bài báo cho người đọc ấn tượng gì với từ “làm giả” và những từ như “giáo điều”, “phái tiến hóa”? Rằng thì là Haeckel, họa sĩ, dường như đã tự tưởng tượng ra hết những phôi đó để thỏa mãn tôn giáo chủ nghĩa Darwin của ông, rằng thì là các nhà KH, cũng là những người theo “giáo phái tiến hóa” luôn cố bưng bít vụ này, rằng thì là học sinh đang bị đầu độc bởi lời dối trá vô căn cứ… blah blah 8). 

Cũng chẳng lấy gì làm lạ, vì ngoài Gould ra, toàn bộ các “học giả” được dẫn lời còn lại là những người theo Sáng Tạo Luận (STL-Creationism, tin rằng Chúa Trời tạo ra vạn vật) và làm việc trong các “viện nghiên cứu” STL (Các bạn Gúc thử xem ;) ), dĩ nhiên họ sẽ chộp lấy mọi cơ hội để chuyện bé xé ra to, để công kích thuyết TH. Từ những cái blah blah trên, họ sẽ kết luận “Nó một lần nữa cho chúng ta hiểu được tại sao thuyết Darwin lại liên tục cần phải được bổ sung thêm bằng những trò dối trá mới.” .Những người theo STL không cần biết Haeckel thực sự sai đến đâu, không cần biết Richardson, tác giả công trình thật sự nói gì, không cần biết TH ngoài phôi học còn biết bao nhiêu bằng chứng khác… cứ vơ đũa cả nắm là toàn bộ thuyết TH là dối trá, sao mình không ngạc nhiên nhỉ ;)? Mượn lời tờ báo luôn “Nhưng, họ làm vậy nhằm mục đích gì?”, để mà sẽ có những con nai vàng ngơ ngác vào đọc báo và comment thế này 
Hoàng Minh 29/07/2011 lúc 2:46 PM  Thuyết tiến hóa là giả , con cái gì cũng đổ thừa tự nhiên và càng ngày càng trở nên sống vì vật chất , cuộc sống ngày càng căng thẳng” và hướng tới “chân lý” của STL =))
Từ tin180:


  • Phan Linh

hihi!mấy anh nhà báo cũng viết láo dc mà!:^^.Chắc gì tin đang trên báo này đã đúng


Thuong DangThu gọn lại

phan linh ơi. cái trò bưng bít thông tin có hiệu quả vs cậu thật đấy. trò lừa của thuyết tiến hóa bị phanh phui và cả thê giới đều biết mà bạn. nếu không có báo mạng thì thuyết tiến hóa thành chân lý ở việt nam mất.



Oa, có vẻ bài báo này đã thuyết phục được khá nhiều người chưa tìm hiểu kĩ ;) 

          Tôi đã gửi bản dịch bài luận của Richards ở mục bình luận của tin180 “Tin tức tổng hợp văn hóa lành mạnh, chọn lọc”. Bình luận đang chờ chấp thuận, có những bạn đăng bài ngày 29/8 thì 1/9 đã lên nên tôi đang mong nó sẽ được ai đó nhìn thấy trước khi phán xét hấp tấp. Ở một comment trước, tôi thể hiện sự bức xúc với một số người đã comment trước tôi (vì tôi rất không ưa những ai nghe lời một phía rồi xem thường và vội vàng lên án KH), nếu không được đăng cũng không lạ. Tôi đã đăng cái khác, chỉ đưa đường dẫn tài liệu của mình, và sẽ chờ một tuần (từ 1/9) xem nó có được đăng không. Không thì có lẽ tôi và bạn đã hiểu tin180 “lành mạnh” cỡ nào và “chọn lọc” có nghĩa là gì.

Thông báo ngày 9/10: ác cảm, tôi rất không thích phải vào tin180 nữa, nhưng may sao, có lẽ chỉ có mình gã Minh Trí đó là mờ ám :D. Bài của tôi đã được đăng, nhưng không biết có ai thèm để ý tới comment khiêm nhường ấy khi những lời của những kẻ có lẽ chỉ mới đọc về Haeckel 2 lần: 1 trong SGK và 1 ở tin180 và cũng chẳng tìm hiểu gì thêm nhưng đã mạnh mồm ‘phán như thánh’ là thuyết TH thì sai bét còn các nhà KH ham tiền hám danh này nọ.
Thông báo ngày 28/04: Oh yes! Sau 1 cuộc trao đổi với 1 bạn lề trái hồi đầu năm, comment của cả 2 đã bị xóa =))

Trích dẫn & nguồn:
i)
To some of them [anti-Darwinists] every sort of vilifying argument [against Haeckel] was welcome.  This seems to still be true today, as is evidence from recent claims in the British press that Haeckel had been convicted by his university of alleged fraud.  On being asked to disclose their sources, one of the respective authors kindly referred us to a book agitating against the origin of man from other primates (which in turn gave no relevant reference), while the other did not answer our queries.  Because, to our knowledge, no respectable historical source mentions this conviction of Haeckel, we conclude that the claim for it must be based on hearsay, not fact. 
ii)
I am concerned to find that I may have helped perpetuate a Creationist myth… The claim that Ernst Haeckel was convicted of fraud was made in The Times.  I relied on that statement in a subsequent publication without seeking a primary source -- clearly a mistake on my part.
iii)
Data from embryology are fully consistent with Darwinian evolution. Haeckel’s famous drawings are a Creationist cause célèbre. Early versions show young embryos looking virtually identical in different vertebrate species. On a fundamental level, Haeckel was correct: All vertebrates develop a similar body plan (consisting of notochord, body segments, pharyngeal pouches, and so forth). This shared developmental program reflects shared evolutionary history. It also fits with overwhelming recent evidence that development in different animals is controlled by common genetic mechanisms
Richardson, et al., 1998."Haeckel, Embryos and Evolution." Science, 280, p. 983


Đón đọc phần 4!!

20 tháng 4, 2012

Tổng hợp về phôi thai của Haeckel P2: Haeckel có tội & đã nhận tội??


Để biết chi tiết thật ra Haeckel sai cỡ nào và có nội tình gì không, mời các bạn xem bản dịch bài luận củaRobert J. Richards về vấn đề Haeckel. Có thể tóm tắt như sau:


_Richardson không nói riêng mình Haeckel mà còn có nhiều nhà khoa học (KH) xưa và nay khác. Bài báo lại chĩa mũi dùi vào riêng Haeckel, ý đồ gì?

_Richardson không nói lừa đảo, chỉ cho là KH nên dùng tài liệu tiến bộ hơn. Nhưng bài báo lại biến nó lại thành một lời buộc tội.

_ Những nhà KH ngày nay biết những gì nhà KH ngày xưa không biết đâu có nghĩa là nhà KH cố tình lừa dối? “Ernst Haeckel đã chỉ vẽ hình của một phôi thai duy nhất, rồi dựa vào đó chế ra hình phôi người, phôi khỉ, phôi chó và chỉ thêm vào mỗi hình đó rất ít thay đổi. Nói cách khác, đó là một trò lừa đảo.” Chính xác là Haeckel đã dùng một bản khắc gỗ 3 lần, nhưng Haeckel lí luận rằng ở giai đoạn sớm như thế thì không thể phân biệt (Haeckel đã sửa chỗ này. Phôi thai giai đoạn đầu không thấy được dưới mắt thường, với trang thiết bị của thế kỉ 19, thì những quan sát của Haeckel là đúng.)

VD, theo GS. Agassiz từng nhận xét vào năm 1849 (trước khi thuyết tiến hóa ra đời! Và ông này là người theo Sáng tạo luận, tin vào Chúa Trời ): "Chúng tôi cũng nhận thấy rằng dơi hay chim non hay rắn con, trong những giai đoạn phát triển nhất định, giống nhau đến mức, sẽ là một thách thức với bất kỳ ai muốn phân biệt chúng với nhau - hay phân biệt một con dơi và một con rắn) (Scientific American 1849).
 "We find, too, that the young bat, or bird, or the young serpent, in certain periods of their growth, resemble one another so much that he would defy any one to tell one from the other--or distinguish between a bat and a snake." (Scientific American 1849)


_Richardson so sánh ảnh với hình ảnh từ bản thứ nhất của cuốn Anthropogenie, trong khi hững lần tái bản sau Haeckel đã có tiếp thu và sửa chữa, bổ sung kho tài liệu, so sánh hình chụp của Richardson với hình vẽ ở những lần tái bản cuối cùng thì khó mà kết tội. Nhưng “Và điều đó đã khuyến khích Haeckel tiếp tục đi xa hơn. Trong những năm sau đó ông ta tiếp tục sản xuất ra hàng loạt các minh họa so sánh phôi.”, nỗ lực sửa chữa sai lầm và làm phong phú thêm tài liệu ở những lần xuất bản sau biến thành “thừa thắng xông lên”, bài trên tin180 quá là sắc sảo ;), nhỉ?

Hình vẽ tai tiếng của Haeckel năm 1874

Hình từ cuốn Ernst Haeckel, Anthropogenie tái bản lần 4 


_ So sánh hình chụp của Richardson với hình vẽ của Haeckel thì ta thấy khác nhau lớn nhất là hình phôi của thằn lằn và cá. Giải thích là do Richardson đã chụp phôi có túi noãn và những bộ phận khác. Trong khi Haeckel nhấn mạnh là chỉ vẽ hình phôi, không có noãn, màng ối... Tác giả dùng máy tính bỏ những phần này đi trên hình chụp của Richardson thì ta thấy phôi khá giống với hình của Haeckel. So hình bản 4 thì càng chính xác hơn.



_ Richardson cho rằng sự khác biệt về kích thước của phôi là rất quan trọng. Còn Haeckel thì nhấn mạnh là vẽ mấy cái hình đó cùng kích thước để dễ so sánh về cấu trúc của nó. Cá nhân tôi thấy điểm này Haeckel làm rất hợp lí vì khi so sánh các thứ ta thường cùng đưa về một bình diện nào đó.

_Cuốn sách Anthropogenie vốn là bản gom vội những hình ảnh từ các bài giảng cho quần chúng bình dân (general public), vì thế không thể trách nó rất giản lược. Hãy xem Haeckel nói gì về vấn đề này:
Nhiều nhà tự nhiên học đã chê trách những bức hình dạng giản đồ của tôi trong Anthropogeny [Tiến hóa của Con người]. Vài chuyên gia phôi học đã đưa ra những lời cáo buộc nặng nề nhất chống lại tôi trong việc này, và khuyên tôi nên thay thế vào những hình vẽ tỉ mỉ hơn, càng chính xác càng tốt. Tuy nhiên, tôi cho rằng những giản đồ phù hợp để dạy học hơn những hình đó nhiều. Vì mỗi giản đồ chỉ cho thấy những đặc điểm chính yếu mà nó muốn giải thích mà thôi, và lờ đi tất cả những chi tiết không cần thiết mà trong những hình vẽ quá hoàn mĩ, quá chính xác thường làm khổ và làm rối nhiều hơn là giảng và dạy [:) ủng hộ Haeckel chỗ này -SV]. Những cấu trúc càng phức tạp thì những giản đồ đơn giản lại càng giúp ích nhiều trong việc làm chúng dễ hiểu. Vì lí do này mà vài giản đồ đơn giản và thô sơ mà Baer nửa thế kỉ trước đã đưa vào cuốn sách nổi tiếng “Lịch sử Tiến hóa Động vật” của ông đã giúp ích nhiều hơn bao nhiêu là hình ảnh vừa nhiều vừa kĩ lưỡng, được trau chuốt dưới sự giúp đỡ của camera lucida {một công cụ hỗ trợ để cho họa sĩ vừa nhìn mặt giấy vừa nhìn mẫu một lúc- SV} đang tô điểm cho những tập át-lát lộng lẫy và đắt đỏ của His, Goette và những người khác. Nếu muốn nói những giản đồ của tôi là “không chính xác” và lời buộc tội “xuyên tạc KH” có đổ lên đầu tôi, thì điều này cũng đúng với tất cả nhiều rất nhiều những giản đồ đang dùng hàng ngày trong trường học. Tất cả các giản đồ đều “không chính xác”. ” (Haeckel 1876) (3). Dẫu vậy Haeckel vẫn tinh chỉnh các giản đồ của mình.
Haekel

            Haeckel thừa nhận mình đã mắc nhiều sai lầm, nhưng không bao giờ thừa nhận mình lừa đảo, và sự thực đúng là như thế. Cái câu “Sau khi dứt khoát nhận tội ‘giả mạo’ này tôi phải có nghĩa vụ tự thấy bản thân mình đáng bị kết tội và tiêu diệt, nếu tôi không có được sự an ủi khi nhìn thấy hàng trăm người bạn đồng bị cáo cùng đứng trước vành móng ngựa với tôi, trong đó có nhiều nhà quan sát đáng tin cậy nhất và nhiều nhà sinh học được kính trọng nhất. Phần lớn các biểu đồ trong sách giáo khoa sinh học, luận án và tạp chí tốt nhất sẽ phải gánh chịu cùng một mức độ tội danh ‘giả mạo’, bởi tất cả chúng đều không chính xác, và bị làm giả, trình bày và dựng lên không nhiều thì ít” nghe sơ sơ đúng là có cảm giác “điều duy nhất ông ta muốn biện hộ là: những người theo phái tiến hóa khác cũng cần phải bị xử tội như ông ta”, nhưng nếu bạn đã đọc câu nói trên các bạn có thể thấy đó không phải là một lời nhận tội cũng không phải là để kéo những người khác chết chung! Đó chỉ là một cách nói để nêu bật quan điểm của Haeckel trong việc minh họa sách với tư cách một nhà khoa học và cũng là một họa sĩ, rằng mục tiêu của giáo dục không phải để học trò biết mà là để học trò hiểu, không phải cứ nùi một đống chi tiết vào là hay, mà chỉ cần truyền tải được cái cần truyền tải là đạt yêu cầu. Là một học sinh, sinh viên, bạn có đồng ý như thế không? Lấy VD như những hình ADN mình học trong trường, nếu vẽ chi tiết ADN y như thật, các phân tử đường gắn với phốt pho tạo thành các nucleotít rồi các liên kết hidro, phốtpho đi-este… có gì tốt ngoài việc làm mình rối mắt không? Hay ta chỉ cần ADN như 2 dải lụa xoắn với những nu vẽ đơn giản cục lớn cục nhỏ là đủ hiểu?
Lại một trò lừa đảo của những kẻ theo thuyết tiến hóa (còn gọi là các nhà sinh học đàng hoàng)...
...ADN của Watson & Crick - lời nói dối trong thế kỉ!


         Đây là một ví dụ sinh động để bạn đọc thấy cái tài xuyên tạc (quote mining) của những người chống tiến hóa: sau khi quăng bỏ ngữ cảnh, họ có khả năng dẫn dắt lắt léo biến một câu nói hay thành một lời thú tội ngọt xớt!


Tổng hợp về phôi thai của Haeckel P1 - Bài báo của Elizabeth Pennisi



         Vụ này tôi đã định viết một bài cho đàng hoàng từ lâu, nhưng do bận với mấy cái lỗ của Chu Tất Tiến quá, tôi đã bỏ quên nó. Và giờ, thấy 
bài báo này đã lan khắp nơi như một loại bệnh dịch, và chỉ vì tôi chậm trễ mà nhiều nhiều người khác đã “nhiễm bệnh”, tôi không thể chần chừ một chút nào được nữa!
Nếu không xem được bạn có thể download bài báo tin180 về xem ở đây. Xin hãy đọc hết toàn bộ 2 phần trước khi xem tiếp.


        Bài báo chủ yếu dựa trên bài báo “Những cái phôi của Haeckel: Trò gian lận đã bị phát hiện lần nữa,” năm 1997 trên tờ Science và cuốn sách “Những biểu tượng tiến hóa” của Well.
Trong phần này tôi sẽ đề cập đến bài báo trên tờ Science trước:

  • Nguyên văn bài báo như sau:
Research News
DEVELOPMENTAL BIOLOGY
DEVELOPMENTAL BIOLOGY
Haeckel's Embryos: Fraud Rediscovered
1. Elizabeth Pennisi
Generations of biology students may have been misled by a famous set of drawings of embryos published 123 years ago by the German biologist Ernst Haeckel. They show vertebrate embryos of different animals passing through identical stages of development. But the impression they give, that the embryos are exactly alike, is wrong, says Michael Richardson, an embryologist at St. George's Hospital Medical School in London. He hopes once and for all to discredit Haeckel's work, first found to be flawed more than a century ago.

           Nhiều thế hệ học sinh,  sinh viên môn sinh học đã bị lừa dối bởi một bộ tranh về phôi xuất bản 123 năm về trước bởi nhà sinh học người Đức Ernst Haeckel. Chúng cho thấy những phôi của các loài động vật có xương sống khác nhau trải qua những giai đoạn phát triển giống hệt nhau. Nhưng cảm tưởng mà chúng tạo cho người xem, rằng các phôi giống y hệt nhau, là sai, theo Michael Richardson, một nhà phôi học tại trường Y Bệnh viện St. George. Ông muốn một lần và mãi mãi bác bỏ công trình của Haeckel, mà lần đầu tiên bị phát hiện là sai hơn một thế kỉ trước.

Richardson had long held doubts about Haeckel's drawings because they didn't square with his understanding of the rates at which fish, reptiles, birds, and mammals develop their distinctive features. So he and his colleagues did their own comparative study, reexamining and photographing embryos roughly matched by species and age with those Haeckel drew. Lo and behold, the embryos “often looked surprisingly different,” Richardson reports in the August issue of Anatomy and Embryology.

           Richardson từ lâu đã mang những mối nghi ngờ về những hình vẽ của Haeckel bởi chúng không phù hợp với nhận thức của ông về các mức mà cá, bò sát, chim và thú có vú phát triển những đặc điểm riêng biệt. Nên ông và cộng sự đã tự thực hiện nghiên cứu so sánh của mình, xem xét và chụp lại những phôi gần đúng các loài và độ tuổi với những phôi Haeckel đã vẽ. Ngạc nhiên chưa, những phôi này “thường khác nhau đến sửng sốt,” Richardson nói trên số tháng 8 của tờ Anatomy and Embryology.

One striking deviation from reality, Richardson says, appears in Haeckel's drawings of embryos in the “tail bud” stage, which he depicted as identical for different species. While real embryos do share many features at this stage, such as a tail and identifiable body segments, they also have key differences. Human embryos, for example, have tiny protrusions called limb buds, says Richardson, particularly if they have developed to the point of having as many body segments as Haeckel gives them. But Haeckel did not include limb buds. And in his drawings, the chick embryo eye is blackened, like a mammal's, “but it wouldn't be pigmented this early,” Richardson says. He adds that Haeckel has given the bird embryo a curl in the tail that resembles a human's.

          Richardson nói rằng có một sự xa rời thực tế trắng trợn xuất hiện trong những hình vẽ phôi của Haeckel trong giai đoạn “mầm đuôi”, mà ông đã vẽ như là giống hệt nhau ở những loài khác nhau. Trong khi những phôi thật có nhiều điểm tương đồng ở giai đoạn này, như đuôi và các phần cơ thể có thể xác định được khác, chúng cũng có những khác biệt quan trọng. VD, Richardson nói rằng phôi người có những phần nhô ra gọi là các mầm chi, đặc biệt là khi chúng đã phát triển đến thời điểm mà chúng có nhiều cơ quan bộ phận như Haeckel đã cho chúng. Nhưng Haeckel đã không đưa mầm chi vào. Và trong những bức vẽ của ông, mắt con gà con đã được tô đen, như mắt một con hữu nhũ, “nhưng những hắc tố sẽ không có sớm thế này đâu” – theo Richardson. Ông bổ sung rằng Haeckel đã cho phôi con chim một khúc cong ở đuôi cho giống con người.


Ảnh chụp bài báo năm ấy, "phát hiện chấn động làm lung lay thuyết tiến hóa" như một số kẻ thường tung hô còn chẳng có được một chỗ riêng trên trang.


Not only did Haeckel add or omit features, Richardson and his colleagues report, but he also fudged the scale to exaggerate similarities among species, even when there were 10-fold differences in size. Haeckel further blurred differences by neglecting to name the species in most cases, as if one representative was accurate for an entire group of animals. In reality, Richardson and his colleagues note, even closely related embryos such as those of fish vary quite a bit in their appearance and developmental pathway. “It looks like it's turning out to be one of the most famous fakes in biology,” Richardson concludes.

          Haeckel không chỉ thêm bớt các đặc điểm, Richardson và cộng sự nói, mà ông còn bóp méo tỉ lệ để thổi phồng những đặc điểm giống nhau giữa các loài, thậm chí khi kích cỡ chênh lệch gấp 10 lần. Haeckel còn xóa mờ những khác biệt nhiều hơn nữa bằng cách lờ đi việc gọi tên những loài này trong hầu hết các trường hợp, cứ như thể một con là có thể đại diện chính xác cho cả một nhóm sinh vật. Trong thực tế, Richardson và các cộng sự nhận thấy rằng những phôi quan hệ rất gần gũi như những con cá cũng khác đôi chút trong hình dáng và hướng phát triển. “Coi bộ hóa ra đây là một trong những món “đồ dỏm” nổi tiếng nhất trong sinh học,” Richardson kết luận.

This news might not have been so shocking to Haeckel's peers in Germany a century ago: They got Haeckel to admit that he relied on memory and used artistic license in preparing his drawings, says Scott Gilbert, a developmental biologist at Swarthmore College in Pennsylvania. But Haeckel's confession got lost after his drawings were subsequently used in a 1901 book called Darwin and After Darwin and reproduced widely in English-language biology texts.

            Tin này có lẽ chẳng gây sốc lắm đối với những người đương thời với Haeckel ở Đức một thế kỉ trước: Họ bắt Haeckel thừa nhận rằng ông dựa vào trí nhớ và sự phóng túng nghệ sĩ trong việc sửa soạn những bức tranh của mình, theo Scott Gilbert, một nhà sinh học phát triển tại Trường Swarthmore ở Pennsylvania. Nhưng lời thú tội của Haeckel đã mất hút sau khi những bức tranh của ông dùng trong một cuốn sách năm 1901 tên là “Darwin và hậu Darwin” và được dùng rộng rãi trong những cuốn sách sinh học bằng Tiếng Anh.

The flaws in Haeckel's work have resurfaced now in part because recent discoveries showing that many species share developmental genes have renewed interest in comparative developmental biology. And while some researchers—following Haeckel's lead—like to emphasize the similarities among species, Richardson thinks studying the contrasts may be more interesting. Gilbert agrees: “There is more variation [in vertebrate embryos] than had been assumed.” For that reason, he adds, “the Richardson paper does a great service to developmental biology.”

         Những lỗi trong công trình của Haeckel đã lộ ra một phần vì những khám phá mới đây cho thấy nhiều loài cùng có chung những gen phát triển đã làm sống lại sự quan tâm trong ngành sinh học phát triển so sánh. Và trong khi một số nhà nghiên cứu – theo bước Haeckel- thích nhấn mạnh những điểm tương đồng giữa các loài, Richardson cho rằng nghiên cứu những điều ngược lại có thể hay hơn. Gillbert đồng ý: “Có nhiều sự khác biệt [giữa các phôi động vật có xương sống] hơn người ta tưởng” Vì lí do đó, ông nói thêm, “Tờ báo của Richardson đã có công lớn với ngành sinh học về sự phát triển”

          Cong_chua_ech trên www.thienvanhoc,org nhận xét: “Trước hết cần chú ý bài báo này đăng trong mục Reseach New, có lẽ gần với một dạng điểm tin chứ chưa phải là một bài báo khoa học đã được phản biện qua hội đồng.
Thứ nữa, tác giả bài báo này chỉ trích dẫn lời của Richardson rằng có một vài phát hiện mới chứ chưa phải là một công trình nghiên cứu thực sự.
Kết luận cá nhân: bài báo này chỉ đưa ra một ý kiến mới, chỉ có giá trị tham khảo chứ không phải là một bằng chứng chứng minh Haeckel bịa chuyện. Rồi từ đó kết luận thuyết tiến hóa của Darwin (do trích dẫn từ công trình của Haeckel) là sai ại càng hết sức vớ vẩn.” EvoLit đồng ý với bạn này và có dùng một số ý từ một cuộc bàn luận ở trang web ấy.

Haeckel có thật sự là một tên tội nhân thiên cổ như bài báo tạo ấn tượng với ta như thế?
Mời các bạn đọc phần 2



15 tháng 4, 2012

Đồng tiến hóa: Mối & Trùng roi


CÙNG NHAU TIẾN HÓA

          Loạt bài này tôi xin giới thiệu về Đồng tiến hóa (ĐTH Co-evolution). ĐTH là khi có 2 hay nhiều loài ảnh hưởng đến sự TH của nhau. ĐTH xảy ra khi những loài khác nhau có những mối quan hệ sinh thái gần gũi như:
  1. Những loài cộng sinh.
  2. Vật ăn thịt/con mồi và kí sinh/vật chủ
  3. Những loài cạnh tranh.
       Đầu tiên ta nói về lệ thuộc  hay còn gọi là cộng sinh bắt buộc.  CS là khi 2 hay nhiều loài sinh vật sống chung và làm lợi cho nhau. CS gồm CS không bắt buộc (anh và tôi hợp tác đôi bên cùng có lợi thì tốt, không thì thôi lỡ có lỗ anh ráng mà chịu :P như hải quì với ốc mượn hồn) và cộng sinh bắt buộc (không có nhau là thà chết đi còn hơn - Mà muốn sống cũng không được). Trong bài này tôi sẽ đề cập đến VD đầu tiên đó là mối và trùng roi sống trong ruột mối.


I/Cộng sinh:

A.Mối & Trùng roi:

           Mối nhai rồi nuốt gỗ, nhưng mối không tiêu hóa gỗ được. Gỗ vào dạ dày mối rồi mấy anh bạn nhỏ trong ruột chúng mới là kẻ tiêu hóa gỗ. Hơn nữa, những tên này không thể sống thiếu mối mà mối cũng không thể sống thiếu chúng, vậy ai TH trước?


           Đó là một câu hỏi rất hay. Khi biết rằng đây là mối quan hệ cộng sinh, và sự hỗ trợ qua lại giữa những SV này chặt chẽ đến nỗi nếu tách chúng ra sẽ là bức tử, ta đã có một lỗ hổng trong hiểu biết về TH cần phải lấp đầy; con nào TH trước đây khi không có con này thì con kia sẽ chết? Câu trả lời là chúng cùng TH một lúc. Có nghĩa là, chúng đã luôn TH cùng nhau, là không có con nào bị bỏ lại khi con kia đang TH. Tuy nhiên tổ tiên của chúng có thể sống độc lập.



Mối bên cạnh 1 ruột mối

          Những SV đơn bào trong cơ thể mối phá vỡ thành xen-lu-lô của gỗ là những con trùng roi thuộc 2 chi nhất định – Các chi Trichonympha và Personympha. Nòi giống trùng roi đã TH và tồn tại từ rất lâu trước khi có bất cứ loài côn trùng nào sống trên TĐ. Nhưng những SV đơn bào kể trên chưa xuất hiện đến khi có mối, thật ra chúng đã TH cùng một lúc với mối, hay ĐTH.


          Rất có thể tổ tiên của mối không chỉ ăn gỗ vào thời đại của chúng. Như bất cứ loài côn trùng nào cùng thời trong cùng chi, trước đây và bây giờ, chúng xuất thân là loài ăn thực vật và luôn luôn ăn những phần ăn được của cây cối. Có lẽ có những lúc chúng ăn nhầm hoặc ăn tạm một số gỗ nhưng hẳn không phải khẩu phần ăn chính của chúng.


          Lũ sinh vật đơn bào này ăn các vật liệu từ cây và nếu chúng ăn luôn cả gỗ do mang đột biến có khả năng tạo ra enzyme tiêu hóa xen-lu-lô thì đến lúc đó nếu tổ tiên của mối nuốt những sinh vật đơn bào này vào trong lúc chúng ăn cây cỏ, thì chúng sẽ có thêm khả năng tiêu hóa những mảnh gỗ ăn nhầm.


        Không có gì lạ khi SV đơn bào sống trong những SV khác lớn hơn. Đôi khi chúng trở thành SV hội sinh (lợi mình không hại người), kí sinh (lợi mình hại người) và cộng sinh (lợi mình lợi người). Tùy theo tiến triển di truyền qua các thế hệ mà mối quan hệ nào sẽ xảy ra.


       Trong trường hợp của mối, nếu SV đơn bào đó có thể sống trong ruột mối mà không bị tổn thương (điều này một lần nữa cũng không có gì lạ), chúng có thể tạo ra lợi ích cho con côn trùng vật chủ của chúng bằng cách hỗ trợ tiêu hóa gỗ cho nó, trong khi những con khác thì không được như thế. Vậy, điều này sẽ làm cho con vật có lợi thế về năng lượng vượt trội so với những con khác, cho phép nó sinh sản nhiều hơn và để lại nhiều gen hơn cho các thế hệ tiếp theo.


        Mối truyền sinh vật trong ruột chúng cho con cháu ngay trong giai đoạn ấu trùng, bằng cách truyền nước bọt có chứa trùng roi qua đường miệng. Hành động này cũng góp phần vào sự ĐTH của mối và trùng roi.


       Cuối cùng, mối quan hệ “cổ truyền”, không bắt buộc này trở thành bắt buộc, khi tổ tiên mối bắt đầu ăn riêng chỉ có gỗ -- một nguồn thức ăn không dùng được đối với những con vật khác, nay chúng “một mình một chợ”. Điều này gắn kết chúng với các bạn đơn bào của mình thêm khắn khít. Biến động di truyền (sự cô lập một quần thể nhỏ từ quần thể ban đầu) cũng có lẽ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra loài mối chỉ ăn gỗ.

Michael Rozatoru và Dana Krempels

Tham khảo:
http://termiteexterminationforbeginners.blogspot.com/2011/05/termite-evolution.html
http://en.allexperts.com/q/Evolution-3839/Termite-evolution-first.htm
Do TS Dana Krempels hiện đang giảng dạy môn Tiến hóa và Đa dạng sinh học, Di truyền học, Động- Thực vật học tại ĐH Miami

11 tháng 4, 2012

Tiến hóa và thuyết tiến hóa


     Nhiều người nghiễm nhiên nghĩ rằng tiến hóa = quá trình tiến hóa (evolution) = thuyết tiến hóa (the theory of evolution), nói đến TH thì 2 chữ trên là một. Không phải như thế!



A.Quá trình TH:

     Tôi đã nêu rõ các định nghĩa đúng và sai ở đây, mời các bạn xem lại.
     Nếu không thì: “TH, nói ngắn gọn, là sự di truyền có kèm những biến đổi” (Biological evolution, simply put, is descent with modification. – ĐH Berkeley,California).Vậy thì bất cứ ai cũng phải công nhận, đúng, TH là có thật. Các nghiên cứu về ADN, về hóa thạch, về địa chất, vềphôi học, về giải phẫu… đi đến kết luận sinh giới đã TH để đạt được độ đa dạng ngày hôm nay và vẫn đang TH. Đó là sự thật về TH (the fact of evolution). Sau khi người ta nhận biết hiện tượng, tiếp theo người ta sẽ hỏi: tại sao? Như thếnào? Đó, đó chính là vai trò của thuyết TH: giải thích sự thật về TH.

B.Thuyết tiến hóa:

      Thuyết ở đây không phải là giả thuyết (hypothesis) mà là học thuyết (hay lý thuyết - theory).
*Giả thuyết: một dự đoán cụ thể, có thể kiểm chứng [có thể kiếm chứng thôi, chứ chưa được kiểm chứng] mà một người cho là đúng vềmột điều gì đó.
*Học thuyết: một tập hợp các khẳng định hay nguyên lí nhằm GIẢI THÍCH một nhóm các sự thật hay hiện tượng. Hầu hết các học thuyết đều được các nhà KH chấp nhận và đãđược kiểm chứng bằng thực nghiệm lặp đi lặp lại và có thể dùng để đưa ra những tiên đoán về các hiện tượng tự nhiên. (theo từ điển The American Heritage® Dictionary of the English Language, Fourth Edition)

       Tóm lại, giả thuyết ==qua kiểm nghiệm==>học thuyết. Nên nếu ai đó nói với bạn “Tiến hóa chẳng qua chỉ là một giả thuyết thôi!” hay “Nếu TH là thật, sao không gọi là định luật TH mà gọi là giả thuyết” thì 1/Người đó thiếu hiểu biết hoặc không tìm hiểu từ ngữ kĩ; 2/Người đó cố tình tung hỏa mù để bạn nghĩrằng thuyết TH chỉ là đoán mò. Định luật trong KH là gì? Là một khẳng định hay một sự thật nhằm MIÊU TẢ, nói ngắn gọn dễ hiểu, một hoặc một tập hợp các tácđộng.


Newton


       Để hiểu rõ hơn, lấy VD về học thuyết và định luật Newton về trọng lực:
+ĐL Vạn vật hấp dẫn của Newton: Lực hấp dẫn giữa hai chất điểm bất kì tỉ lệ thuận với tích hai khối lượng của chúng và tỉ lệnghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Ông nêu và miêu tả hiện tượng, nhưng ông không hề trả lời TẠI SAO? Và ông không cần phải làm thế, vì đó là nhiệm vụ của học thuyết, còn đây chỉ là định luật. Khi muốn thử giải thích vấnđề, ông sẽ dùng đến…
+Học thuyết hấp dẫn của Newton: “Tôi suy luận rằng những lực giữ cho các hành tinh nằm trong quĩ đạo phải tương hỗ với bình phương khoảng cách từ các tâm mà chúng quay xung quanh; và bằng cách ấy đem so sánh lực cần để giữ mặt trăng trong quĩ đạo của nó với trọng lực trên trái đất; nhận thấy câu trả lời cũng gần đúng” (I deduced that the forces which keep the planets in their orbs must [be] reciprocally as the squares of their distances from the centers about which they revolve: and thereby compared the force requisite to keep the Moon in her Orb with the force of gravity at the surface of the Earth; and found them answer pretty nearly.)

         Rõ ràng học thuyết và định luật làm những việc khác nhau, chúng không thể đổi chỗ hoặc biến thành nhau được. Còn nếu bắt buộc phải bỏ lên bàn cân nặng nhẹ, học thuyết sẽ > định luật, vì không phải“biết”, “miêu tả” mà “hiểu”, “giải thích” sự vật hiện tượng mới là đích đến của KH. Công trình của Darwingiải thích hiện tượng TH qua con đường chọn lọc tự nhiên (CLTN) nên phải gọi là học thuyết chứ không phải định luật.

      Nếu người đó nói “Sao tôi chấp nhận thuyết THđúng được khi nó chưa được chứng minh(CM) là đúng”, đúng đó, nhưng một lần nữa lại tỏ ra thiếu hiểu biết. Chữ “học thuyết” là đã biết chưa được CM đúng rồi, cần gì nói! Học thuyết KH có thể được CM là sai, nhưng không thể được CM là đúng 100%, KH không bao giờ dám khẳngđịnh bất cứ cái gì 100% đúng, trừ một số trường hợp bên toán học thuần túy, còn không thì lúc nào các học thuyết cũng phải mở cho các bằng chứng mới và những khía cạnh chưa được kiểm chứng. Nhưng, thuyết TH có rất nhiều bằng chứng ủng hộvà giải thích được nhiều vấn đề=>một học thuyết đạt được độ tin cậy & độchính xác rất cao, và đó là điều tốt nhất một học thuyết có thể có được. Dĩnhiên có những thứ chưa hiểu rõ được về TH, mọi lĩnh vực KH khác đều thế thôi, nhưng chính vì thế các nhà KH mới nghiên cứu chứ! Tôi đã bắt gặp câu nói này –ý chê bai – rằng các nhà KH đâu có biết hết mọi thứ. Dĩ nhiên là không, nhưng chúng tôi mong rằng ngày mai chúng tôi sẽ biết được nhiều hơn hôm nay :D.

Lamarck


        Một điều nữa, thực ra không chỉ mình Darwin có thuyết TH. Người ta đã nhận thấy điều đó từ trước, nhưng cột mốc là năm 1800 khi Jean-Baptiste Pierre Antoine de Monet, Chevalier de la Marck, gọi tắt là Lamarck, nhà tự nhiên (TN) học người Pháp, khi ông nói sơ về TH trong bài giảng Floreal của mình. Lamarck không phải là người đầu tiên nghĩ đến TH, nhưng là người đầu tiên đưa ra một học thuyết mạch lạc. Nhưng học thuyết của ông có quá nhiều sai lầm căn bản nên đã bị bác bỏ. Điều này cho thấy:
+Không phải cứ “giao hết cho TN” là mang tính KH và sẽ được chấp nhận.
+Khi học thuyết bị CM là sai hoặc chết đi không có nghĩa là sự việc hiện tượng (facts) cũng sai. VD, khi thuyết hấp dẫn của Einstein thay thế thuyết hấp dẫn của Newton, trái táo vẫn rơi. Bây giờ dù cho có CM được thuyết Darwin, như thuyết Lamarck, là sai đi nữa, thì hiện tượng TH còn lâu mới có thể bác bỏ được.

"Những người ủng hộ tiến hóa đã nói rất rõ về sự tách biệt giữa “sựthật” và “học thuyết” ngay từ thuở ban đầu, chỉ vì chúng tôi luôn nhận thứcđược mình còn cách một hiểu biết trọn vẹn về các cơ chế (thuộc về học thuyết) mà qua đó TH (sự thật) đã xảy ra. Darwin liên tục nhấn mạnh điểm khác giữa hai thành công lớn và riêng biệt của ông: đưa ra sự thật về quá trình tiến hóa, vàđề xuất một học thuyết – CLTN – để giải thích cơ chế TH."

"Evolutionists have been very clear about this distinction of fact and theory from the very beginning, if only because we have always acknowledged how far we are from completely understanding the mechanisms (theory) by which evolution (fact) occurred. Darwin continually emphasized the difference between his two great and separate accomplishments: establishing the fact of evolution, and proposing a theory--natural selection--to explain the mechanism of evolution."
- Stephen J. Gould, " Evolution as Fact and Theory"; Discover, May 1981
Kết luận:
_TH không đồng nghĩa với thuyết TH.

_Thuyết TH không phải là đoán mò, giả thuyết hayđịnh luật, mà là một học thuyết có đủ bằng chứng và được chấp nhận rộng rãi.

_Dù thuyết TH có 1 ngày nào đó bị CM là sai không có nghĩa TH không xảy ra.


Tham khảo và dịch từ:
Jean-Baptiste Lamarck (Wikipedia)

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Copyright 2012 - Evolit. Được tạo bởi Blogger.

Ảnh đại diện

Ảnh đại diện
Một ý tưởng thay đổi thế giới

Text Widget

EVOLIT LÀ THƯ VIỆN CÁC TÀI LIỆU VỀ TIẾN HÓA VÀ SINH HỌC

Hãy tìm đến:
Evolit.tk
Tienhoa.tk

Bất cứ khi nào bạn không truy cập được vào EvoLit, hãy nhớ www.sinhtienhoa.blogspot.com

Evolit ở chỗ khác

follow me on youtube

About Me

Căn bản

Bấm CC, chọn Vietnamese để xem phụ đề TIẾN HÓA LÀ GÌ?
BẰNG CHỨNG TIẾN HÓA
“Không gì trong sinh học có ý nghĩa trừ khi có ánh sáng của tiến hóa” - Theodosius Dobzhansky
“Không gì trong sinh học có ý nghĩa trừ khi có ánh sáng của tiến hóa” - Theodosius Dobzhansky

THÔNG BÁO DỜI NHÀ

Để tăng cường an ninh và tạo môi trường sạch đẹp hơn, EvoLit đã chuyển sang www.sinhtienhoa.wordpress.com , mời đồng bào sang ủng hộ. Blo...

Blog sạch

MyFreeCopyright.com Registered & Protected