Hiển thị các bài đăng có nhãn tiến hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiến hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

10 tháng 7, 2016

Khoa Học Và Nỗi Oan của Khoa Học Lịch Sử, Phần 1. Khoa học và những ngộ nhận

Khoa học cũng như Einstein, ai cũng biết, ai cũng ngưỡng mộ nhưng làm gì thì ít ai hiểu!
Nhiều web chống tiến hóa hiện nay tuyên bố với đồng bào là có hai loại khoa học, khoa học xài được và khoa học lịch sử. Họ cho rằng cái gì mắt thấy, tai nghe, máy đo được liền mới là khoa học, khoa học thực nghiệm mới có đóng góp thực tế cho đời sống con người, còn những thứ thuộc về quá khứ, do không ai thấy được nên ko thể kiểm chứng, ko thể kiểm chứng thì cách lý giải nào cũng có lý như nhau.
Để bác bỏ luận điệu nghe cũng có lí này, EvoLit mạn phép giải thích chút ít về khoa học, nhà khoa học và cách làm việc của họ.
Hỏi khởi động:
  1. Hình ảnh đầu tiên khi bạn nghĩ đến một nhà khoa học là gì?
  2. Bạn hiểu làm khoa học là làm gì?
  3. Hầu hết các nhà khoa học trên thế giới đều đau đầu tìm kiếm thuốc trị HIV/AIDS”. Bạn có thấy vấn đề gì với câu này không?
Sau khi các bạn đã trả lời nhẩm trong đầu xong 3 câu trên, mời các bạn xem chân dung một nhà khoa học thực nghiệm, Konrad Lorenz, đang tiến hành thí nghiệm, không phải đi bơi và bị vịt mai phục.


Có lẽ các bạn sẽ nhận ra ông dễ hơn qua hình sau:
Ông chính là nhà tâm lý học hành vi đã nghiên cứu hiện tượng in vết (ví dụ như bầy ngỗng đi theo người đầu tiên nhìn thấy khi nở ra), tiên phong cho công cuộc tìm hiểu về  tập tính.


Còn đây là hình ảnh các nhà khoa học lịch sử, cụ thể là cổ sinh vật học từ Mexico, trên thực địa xử lí xương hông và xương đuôi một con khủng long mỏ vịt.


Nói đến đây là để đồng bào có thể gỡ cài đặt hình ảnh nhà khoa học cặm cụi lắc lắc trộn trộn, lẩm bẩm một mình trong một phòng thí nghiệm bí mật trong tầng hầm, chiếu sáng xanh ma quái lờ nhờ với thứ chất lỏng đủ màu sôi sùng sục được lão dẫn qua những bình tròn, rồi đổ qua bình tam giác, rồi chảy qua cốc cổ dài, rồi ngưng tụ trong ống cong, dẫn ống thẳng rồi cô đặc nhỏ giọt trong bình phình bụng ra một ống týp bé xíu, cười man dại, rồi lão... đổ bỏ.
Với hóa chất/phản ứng bốc hơi/khói vậy phải làm việc trong tủ hút khí độc (fume hood) nhé ông già.


I. Giải đáp 1 & 2: Khoa học là gì và không phải là gì?


1. Nhà khoa học - dù mặc áo bờ-lu (phải gài nút!), mang găng, đeo khẩu trang tỉ mỉ tách phôi châu chấu (vâng, thật sự có người làm chuyện đó) trong phòng vô trùng hay quần sọt áo cộc mũ cối, mồ hôi hòa lẫn thuốc chống côn trùng nhễ nhại lấy mẫu phân khỉ trong rừng châu Phi (vâng, thật sự có người làm chuyện đó) -  đơn giản là người làm khoa học.
2. Nhưng khoa học lại rất rộng và phức tạp, bao hàm rất nhiều lĩnh vực và phương pháp, thật sự khó giới hạn bằng từ ngữ. Vì thế, ta sẽ nhắm tới việc bao hàm những điểm tương đồng bao quát hết sức có thể của các ngành được công nhận hiện nay. Theo định nghĩa của trang web Hội Đồng Khoa học của Anh Quốc, đã được khen ngợi bởi các chuyên gia đăng trên tờ Guardian, khoa học là:
... sự tìm kiếm và ứng dụng kiến thức và hiểu biết về thế giới tự nhiên và xã hội theo một phương pháp luận có thệ thống dựa trên bằng chứng. ("Science is the pursuit and application of knowledge and understanding of the natural and social world following a systematic methodology based on evidence.")

Cũng theo Hội đồng Khoa học, phương pháp khoa học bao hàm:
  1. Quan sát khách quan: Số đo và dữ liệu (Có thể nhưng không nhất thiết phải dùng công cụ là toán học)
  2. Bằng chứng
  3. Sử dụng thí nghiệm và/hoặc quan sát làm chuẩn mực kiểm chứng giả thiết
  4. Quy nạp: dùng lý luận để rút ra các quy luật (general rules) hay kết luận chung từ dữ kiện hoặc trường hợp ví dụ.
  5. Lặp lại
  6. Phân tích phản biện
  7. Xác minh và thử thách: soi xét, bình duyệt [quá trình tàn khốc trong đó một nhóm chuyên gia khát máu trong ngành mổ xẻ không thuốc tê một công trình - định nghĩa của EvoLit] và đánh giá nhằm phản biện. (Science Council 2009)


Ta thấy, hệ thống khoa học có nhiều cách tiếp cận sự thật khác nhau, nhưng tựu chung lại ở chỗ tìm dữ kiện thách thức chúng. Dĩ nhiên nhà khoa học là con người, thì sẽ có sự cảm tính và sai lầm; cũng như có thể lấy cảm hứng từ những nguồn chủ quan như niềm tin, ước mơ cá nhân, trí tưởng tượng, giấc mộng v.v. Nhưng sự khác biệt (chưa khẳng định là ưu việt, khác biệt thôi) của khoa học so với các phương pháp tìm hiểu thế giới khác là các nhà nghiên cứu phải luôn tự kiểm chứng là dữ liệu của họ không chỉ tự họ thấy đúng, vì đằng nào thì đồng nghiệp cũng sẽ tìm cách chứng minh phát hiện của họ sai. Nói cách khác, khoa học là “...một cách điều tra được thiết kế để ép bạn trung thực khách quan khi bạn tìm hiểu thế giới một cách khái quát”.


Cùng xem xét cụ thể một phương pháp trong khoa học, cũng là phương pháp nổi bật nhất, xuất hiện trong mọi cuốn sách vỡ lòng: Diễn dịch giả thuyết, được gọi rất oách là “The Scientific Method”. Phương pháp này được minh họa từng bước bằng hình ảnh rất dễ hiểu sau:
Định nghĩa bình dân của giả thuyết là “câu trả lời sơ bộ, cần chứng minh, vào câu hỏi nghiên cứu của đề tài”(Viện Nghiên cứu Phát triển TP. HCM, 2008). Qua hình và định nghĩa, ta thấy có hai đặc điểm tiên quyết của một giả thuyết mang tính khoa học:
1. Phải khớp với dữ kiện/bằng chứng,
2. Phải kiểm chứng và/hoặc bác bỏ được.
Khớp với thực tế thôi chưa đủ, vì có vô số ý tưởng bay bổng có thể phù hợp với các quan sát của chúng ta (Theobald 2012). Ví dụ, loạt phim Ma Trận, cốt truyện: “Ma trận là một thế giới giả lập mà người máy tạo ra [để nuôi sống và thu hoạch năng lượng sinh học từ con người]. Chúng đưa vào cơ thể các hài nhi sơ sinh một chương trình điện não tiên tiến có khả năng tạo ra thực tế ảo [y như thật đến từng chi tiết]. Vì thế, khi lớn lên, những đứa trẻ vẫn sống trong phòng thí nghiệm (trong một ống hình trụ đầy chất lỏng với vô số sợi dây gắn trên người) nhưng lại tưởng rằng họ đang sống trong thế giới bình thường.”, nó có khớp với thực tế không? Có, vì người máy đã thiết kế thực tế ảo, giả lập tất cả những thứ xung quanh. Nhưng có cách nào chứng minh ý tưởng này là sai không? Nếu chúng ta thực sự được nuôi từ khi sinh ra trong thực tế ảo, chúng ta chưa từng biết và không thể nào biết đâu là sự thực.


Những bộ phim ăn khách về hiện tượng siêu nhiên như Ám Ảnh Kinh Hoàng 2, có thể gây ấn tượng rằng các nhà khoa học rất bảo thủ, rất hách dịch, cứ thấy có gì có hơi hướm siêu nhiên là gạt qua một bên, đả đảo ngay không cần xem xét; dĩ nhiên có, nhưng là cá nhân các nhà khoa học thôi. Còn khoa học thì  khi gặp một khẳng định không đi kèm chứng cứ, sẽ nói nó “cực kì khó có thể là sự thật” (extremely unlikely). Chú ý, một sự vật hiện tượng không được khoa học công nhận không có nghĩa là nó sai và ngược lại, điều đó chỉ có nghĩa là chưa có đủ chứng cứ khách quan; bạn hoàn toàn không cần phải chứng minh những niềm tin và trải nghiệm cá nhân của mình. Sự tồn tại của những sinh vật huyền thoại như ngựa một sừng (kỳ lân), sư tử đầu chim trên Trái Đất, hay viễn tưởng như người xanh trên Sao Hỏa, hải mã cao cấp siêu thông minh trên Sao Kim hay đâu đó trong vũ trụ bao la, các hiện tượng ngoại cảm, tâm linh…  là không thể hoặc chưa từng vượt qua kiểm chứng độc lập, nên dù chúng có thể giải thích nhiều hiện tượng/ghi chép ta có và vì thế là có thể đúng, nhưng không thể gọi là khoa học.
Khoa học và kỹ thuật nhìn sơ giống nhau và có nhiều điểm chung, nhưng nếu chủ yếu bạn chỉ quan tâm đến thiết kế, chế tạo và sử dụng máy móc, quá trình và cấu trúc để giải quyết vấn đề thay vì theo đuổi phát kiến mới về tự nhiên, bạn là kỹ sư (Runn 2015)

Xem thêm: Bài viết chi tiết, tiếng Việt về phương pháp nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu Phát triển TP. HCM.


II. Giải đáp câu hỏi khởi động số 3.


Hầu hết các nhà khoa học trên thế giới đều đau đầu tìm kiếm thuốc trị HIV/AIDS

Vấn đề ở chỗ, dù cho có thể có một số ngành ngoài ngành y mà HIV/AIDS có thể dính líu đến (như xã hội học), và rất nhiều nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này trên phương diện cá nhân, không bao giờ có chuyện đa số các nhà khoa học cùng theo đuổi một vấn đề, dù nó cấp thiết cho nhân loại đến đâu. Không phải vì họ không quan tâm, mà là họ không có chuyên môn. Ngoài chương trình đào tạo chung gồm các môn đại cương lớn như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Phương pháp Khoa học, An toàn phòng thí nghiệm, Xác suất Thống kê v.v thì mỗi ngành đều có lượng kiến thức và kỹ năng chuyên môn vô cùng lớn mà khi học xong đại học, sinh viên chỉ được trang bị gãi ngứa. Ngành nào cũng cần rất nhiều năm để cày gần hết kiến thức hiện có để học đến Thạc sĩ, rồi Tiến sĩ (bạn không thể học trình độ này, bạn phải viết một dấu phẩy mới trong kho tàng kiến thức nhân loại rồi mới được phong Tiến sĩ).


Bao năm dùi mài kinh sử và phát kiến này làm nhà khoa học trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực rất hẹp của mình, nhưng không hề biết thêm gì về những ngành không liên quan trực tiếp. Dù các nhà vật lý tên tuổi có trông như họ biết tất cả, không con người nào có thể một mình đi hết vòng tròn. Einstein chắc chắn không thể cấy vi khuẩn gọn, đẹp bằng cô kỹ thuật viên trong trường tui; đó không phải điểm trừ cho Einstein, đơn giản đó không phải kỹ năng ông được đào tạo.
Trên thực tế, cùng là Y học Động vật, một bác sĩ thú y sẽ không dám lạm bàn chuyện cá chết hàng loạt với dân ngư y; cùng là Hóa học, bậc thầy về Hóa Vô cơ cũng phải tìm đọc mớ tài liệu để tránh mất mặt khi đàm đạo đồng nghiệp chuyên Protein. Không phải mặc dù họ là chuyên gia trong lĩnh vực của họ nhưng họ kém những lĩnh vực khác, mà chính vì họ đã phải dành quá nhiều thời gian cho ngành họ cho nên họ không có khả năng lấn sân chỗ khác nếu không có thật nhiều bằng chứng. Nếu có một 10.000 các nhà nông học, hóa học, khoa học máy tính, toán học, nhà kinh tế, khoa học chính trị v.v. cùng ký tên chống lại thuyết Sắc Động học Lượng tử bên Vật lý, quần chúng sẽ phản ứng ngay: “Ngoài ngành thì biết gì mà ký! Họ có giỏi thì đưa bằng chứng phản biện đi.”, nhưng lạ thay, với riêng thuyết Tiến hóa, tự nhiên phe chống tiến hóa lại làm như ý kiến người đi đường nào cũng quan trọng! May thay, thực tế không thể chối cãi là thuyết tiến hóa có sự ủng hộ về học thuậtluật pháp vô cùng vững chắc.

Thế nói nãy giờ cái gì là khoa học, phi khoa học, chưa thấy tại sao khoa học lịch sử lại bị người chống tiến hóa tố là thấp kém so với khoa học "xài được" nữa >”<! Cũng ham nói lắm, nhưng nhồi hết một bài thì bứt nút mất, chờ đón xem phần 2 nghen :D


Trích dẫn và tham khảo:
Science Council. (2009). Our definition of science. Retrieved June 12, 2016, from http://sciencecouncil.org/about-us/our-definition-of-science/
Theobald, D. L. (2012). 29+ Evidences for Macroevolution: The Scientific Case for Common Descent. The TalkOrigins Archive.

Runn, C. (2015). Scientist vs. Engineer: What’s the difference? Retrieved June 13, 2016, from http://www.stemjobs.com/whats-the-difference-between-a-scientist-engineer/

24 tháng 6, 2016

Phản Biện Ông Phạm Việt Hưng, Phần 3: Xác suất hình thành sự sống

BỊA ĐẶT CỦA ÔNG HƯNG VỀ XÁC SUẤT HÌNH THÀNH SỰ SỐNG


Tôi đã thấy rất nhiều bàn luận về đề tài này. Một số đưa ra câu hỏi về sự sống hình thành như thế nào? Đây thực sự là một câu hỏi hay và hợp lý vì nó góp phần nâng cao hiểu biết của con người. Nhưng tôi lại thấy một số lại khẳng định rằng sự sống không thể diễn ra tự phát vì xác suất hình thành sự sống tự phát gần như bằng không. Tôi thật sự không biết họ lấy các xác suất đó ở đâu để khẳng định như vậy. Nhưng tôi cho rằng kết luận này phần lớn là lập lại từ kết luận của ông Phạm việt Hưng trong bài sau.
Ngay từ đầu, ông Hưng đã xuyên tạc quan điểm thực sự của TTH


Tiến hóa không phải là chuỗi, chưa bao giờ là chuỗi gọn lỏn có sinh vật đầu tiên hay sinh vật cuối cùng. Ngay từ 1837,  Darwin đã hình dung tiến hóa dạng cây, B, C, hay D mới là cuối cùng? Câu trả lời: tất cả sinh vật hiện đại đều là đầu mút nhỏ, mới nhất trong cả một mạng lưới xum xuê.


 Mỗi học thuyết dùng để giải thích một tập hợp dữ kiện cụ thể. Thuyết tiến hóa là để giải thích đa dạng sinh học. Thuyết tiến hóa chưa bao giờ mon men đến nguồn gốc sự sống, mà lại bảo thuyết tiến hóa không giải thích được tế bào đầu tiên ở đâu ra thì sẽ phá sản là quá vô lý. Nói như vậy cũng như nói định luật vạn vật hấp dẫn của Newton cũng sụp đổ vì ông ấy không giải thích trọng lực từ đâu ra?
Sau khi tôi đọc kỹ bài viết này, tôi chỉ thấy con số 1/10113 mà tôi không thấy nói về con số này được tính như thế nào. Nhưng ông Hưng đã nhanh chóng đi đến kết luận rằng “20 loại acid amin cần cho sự sống không thể ngẫu nhiên kết hợp lại với nhau để tạo ra protein.”


Sau đó, tôi đi đến phần tài liệu tham khảo để xem có bài trích dẫn nào nói về cách tính con số 1/10113 không. Nhưng thật đáng tiếc, phần tài liệu tham khảo rất sơ sài. Hai tài liệu đầu tiên là 2 quyển sách của nhà xuất bản Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania (đây là nhà xuất bản thuộc tổ chức Jehovah’s Witnesses với nhiệm vụ là truyền bá đức tin). Tài liệu thứ 3 là bản liệt kê các câu nói của các nhà khoa học. Tôi cho rằng truyền thống trích dẫn là điểm mạnh của ông Hưng. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là không hề có tài liệu tham khảo nói tới “con số 1/10113 của ông Hưng” này.

Do đó, trong bài này, tôi sẽ bàn luận kỹ hơn về sự sống. Tôi sẽ cố gắng nói một cách dễ hiểu về các thuật ngữ liên quan.
Chúng ta thường nghe nói về vật chất sống/vật chất không sống hay cái sống/cái không sống. Đây không phải là các thuật ngữ khoa học. Đây chính là cách hiểu của phổ thông đại chúng, mà hầu hết là sai lệch so với ý nghĩa của sự sống.

Vậy sự sống là gì? Một cách dễ hiểu, sự sống chính là các phản ứng hóa học xảy ra liên tục dưới sự xúc tác của enzyme.
Chúng ta đã quen với khái niệm phản ứng hóa học từ khi ở trường phổ thông. Một trong các phản ứng hóa học đơn giản là khi cho một miếng kim loại như kẽm vào dung dịch acid clohydric (HCl) chúng ta sẽ thu được 2 chất mới là ZnCl2 và khí Hydro. Tuy nhiên, phản ứng hóa học này không tạo ra sự sống vì nó không kéo dài liên tục. Phản ứng sẽ kết thúc khi kẽm hay HCl đã phản ứng hết. Một thành phần quan trọng thứ 2 của sự sống chính là các enzyme. Enzyme là các phân tử protein, tham gia vào các phản ứng hóa học và giúp các phản ứng này diễn ra với ít tiêu tốn năng lượng nhất. Rất nhiều các phản ứng hóa học của sự sống sẽ không diễn ra khi thiếu enzyme. Một enzyme điển hình là amylase, có trong nước bọt của người, giúp phân giải tinh bột thành đường và cho ta cảm giác vị ngọt trong miệng. Ngoài ra, enzyme còn giúp làm giảm nhu cầu năng lượng của phản ứng hóa học. Năng lượng là nhu cầu sống còn của sự sống, tế bào não nếu thiếu năng lượng trong vài giờ sẽ gây chết não. Do đó, năng lượng chính là một trong những động lực chính của tiến hóa mà tôi sẽ nói rõ hơn trong những bài sau này.
Một tế bào muốn tồn tại thì phải xảy ra các phản ứng hóa học liên tục bên trong tế bào đó. Tuy nhiên, các phản ứng hóa học này thường tạo ra các sản phẩm phụ gây độc cho tế bào. Do đó, tế bào cần phải loại thải liên tục các chất độc này ra khỏi cơ thể. Nếu một sinh vật không còn sống, các phản ứng hóa học bên trong các sinh vật ấy sẽ vẫn xảy ra nhưng đều theo hướng tích tụ các sản phẩm độc hại. Chúng sẽ làm hư hại bộ máy tạo năng lượng của tế bào. Và khi không còn năng lượng, các phản ứng sẽ dừng lại và tế bào sẽ chết. Do đó, trong bảo quản thực phẩm, mục đích chính là làm chậm các phản ứng hóa học này lại để thực phẩm có thể tươi lâu. Ví dụ: bảo quản lạnh (nhiệt độ lạnh sẽ làm nước kết tinh lại, mà nước chính là môi trường cần thiết để phản ứng hóa học xảy ra), ướp muối (muối hút nước, do đó làm mất nước trong thực phẩm)
Chúng ta có thể thấy rằng sự sống chính là các phản ứng hóa học xảy ra liên tục dưới sự xúc tác của enzyme. Từ đó, chúng ta có thể xem sự sống như là một quá trình chứ không phải là vật sống hay là cái sống. Cơ thể là vật chất, cơ thể sống được là nhờ các quá trình hóa học xảy ra bên trong.

Từ ý trên, chúng ta sẽ bàn tới một câu khẳng định của ông Hưng là sự sống không thể hình thành từ cái không sống.
Nếu chúng ta nhìn vào bảng phân loại tuần hoàn của Mendeleev. Chúng ta sẽ đồng ý rằng chẳng có nguyên tố nào trong đó “sống” được cả

Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào cấu tạo của một phân tử DNA, một phân tử có trong tất cả các “vật chất sống”. Chúng ta sẽ thấy rằng nó cấu tạo từ Hydro, Oxi, Carbon, Phospho. Tất cả các chất này đều hiện diện trong bảng phân loại tuần hoàn phía trên. Do đó, chúng ta nói “vật chất sống” hay “vật chất không sống” là không có ý nghĩa. Chúng ta chỉ có vật chất và sự sống. Đây là 2 khái niệm tồn tại riêng biệt


Hay nói một cách ngắn gọn: nếu một sinh vật chết đi và khi các phản ứng hóa học không còn nữa. Sinh vật đó chỉ là một khối vật chất được cấu tạo từ các nguyên tố của bảng phân loại tuần hoàn. Như vậy, vật chất hay những thứ không sống chính là những viên gạch lót đường cho sự sống xuất hiện. Làm thế nào mà enzyme amlylase xúc tác cho việc phân giải tinh bột thành đường nếu như amylase hay đường không xuất hiện trên cõi đời này. Amylase và đường là vật chất và được cấu tạo từ các nguyên tố trong bảng phân loại tuần hoàn.

Một trong những cứu cánh của ông Hưng nhằm lật đổ thuyết tiến hóa là Pasteur.
Ông Hưng cho rằng “các định luật cơ bản do Pasteur khám phá sẽ tự động loại bỏ thuyết tiến hóa của Darwin” và ông Hưng đưa định luật của Pasteur là “Định luật về tính bất đối xứng của sự sống (The Law of Life Asymmetry), hay còn gọi là Định luật về sự sống thuận tay trái (The Law of Left-Handed Life).” (https://viethungpham.com/2015/08/22/why-is-life-left-handed-tai-sao-su-song-thuan-tay-trai/)


Tôi muốn tìm hiểu Pasteur phát biểu định luật này như thế nào. Do đó, tôi đã tra 2 cụm từ “The Law of Life Asymmetry” “The Law of Left-Handed Life”. Tôi bỏ 2 cụm từ vào ngoặc kép, việc này sẽ giúp tra ra kết quả của cả một cụm từ. Nếu không sử dụng ngoặc kép, chúng ta chỉ có kết quả của từng từ  riêng lẻ chứ không phải một cụm từ cụ thể. Kết quả thật ngạc nhiên, 2 cái tên này chỉ có duy nhất nằm trong bài của ông Hưng mà thôi.



Từ đó, tôi nghi ngờ về sự tồn tại của định luật của Pasteur mà ông Hưng đưa ra. Ông Hưng đã khéo léo sử dụng tiếng Anh để cho người đọc lầm tưởng về sự tồn tại của định luật này. Tuy nhiên, định luật bằng tiếng Anh này chỉ tồn tại trên blog cá nhân của chính ông Hưng. Ông Hưng thường cho là định luật của Pasteur này bị che đậy quá kỹ và không ai tìm ra được, TRỪ ÔNG HƯNG. Nếu tôi gỉa sử điều này là đúng, thì tại sao ông Hưng không trích dẫn cái định luật mà ông ta tìm được trong phần tài liệu tham khảo. Thật vậy, trong phần tài liệu tham khảo không hề có phần trích dẫn nguồn của định luật này, độc giả có thể xem phần tài liệu tham khảo của ông Hưng mà tôi đã chụp lại ở trên vào thời điểm viết bài. Do đó, tôi thật sự không biết mục đích của ông Hưng khi bịa đặt và tạo dựng định luật của Pasteur để làm gì. Nhưng tôi biết một nhà khoa học lớn như Pasteur có lẽ sẽ rất buồn khi hậu thế lại lợi dụng tên tuổi của mình cho một mục đích nào đó.

Một lần nữa, có thể thấy truyền thống của ông Hưng là trích dẫn tài liệu tham khảo rất mơ hồ. Khoa học cần sự minh bạch và rõ ràng. Việc trích dẫn mơ hồ này chứng tỏ ông Hưng đang che dấu sự thật với chúng ta.

Vào năm 1848, Pasteur tiến hành thí nghiệm trên tartaric acid và ông thấy rằng tartaric acid được chiết xuất từ tự nhiên thì có dạng L (levotartaric acid); còn tartaric acid từ tổng hợp nhân tạo sẽ có dạng D (dextrotartaric acid). Hai dạng này của tartaric acid giống như là 2 hình ảnh phản chiếu qua một tấm gương. Đó chính là phát hiện gốc của Pasteur. Ngoài ra, Pasteur không bao giờ phát biểu là sự sống là phải thuận tay trái gì cả.
Tuy nhiên, ông Hưng đã núp bóng Pasteur mà rút ra một kết luận vô cùng táo bạo


Và các kết luận táo bạo của ông Hưng cũng là từ định luật thuận tay trái bịa đặt của ông ta.
Trong tự nhiên, các phân tử acid amin tham gia sự sống có dạng L; các phân tử đường tham gia sự sống có dạng D (https://en.wikipedia.org/wiki/Chirality_(chemistry)) . Chứ không phải như ông Hưng nói là sự sống là phải thuận tay trái.

Ông Hưng tiếp tục lấy Pasteur ra để phản đối tiến hóa trong một thí nghiệm về sự sống tự phát.
Thế nào là tự phát (Spontaneous)? Khi chúng ta cho kim loại như kẽm vào acid HCl, phản ứng sẽ diễn ra ngay lập tức. Đây gọi là phản ứng tự phát vì phản ứng có thể tự diễn ra mà không chịu tác động của một phản ứng khác (phản ứng khác này thường là phản ứng cung cấp năng lượng cho phản ứng tiếp theo). Sự sống tự phát là sự sống không bắt nguồn từ sự sống. Vào trước thời đại của Pasteur, người ta tin rằng để tạo ra dòi, chỉ cần để miếng thịt thối vào góc nhà; hay chỉ cần để một miếng phomat vào đôi giầy thì một vài ngày sau, các con chuột sẽ đi ra từ đôi giầy. Trong một thí nghiệm kinh điển, Pasteur đã hoàn toàn bác bỏ được khái niệm sự sống tự phát. Từ đó hình thành nên thuật ngữ Biogenesis, tức là sự sống hình thành từ sự sống
Thuật ngữ biogenesis thường được gán cho quá trình sinh sản của sinh vật. Không chỉ là quá trình tạo ra một sinh vật mới, mà còn là quá trình tạo ra các bào quan mới trong tế bào
Khái niệm này hoàn toàn khác với thuật ngữ abiogenesis được đưa ra bởi Henry Charlton Bastian. Abiogenesis là sự sống bắt nguồn từ vật chất không sống. Như tôi đã mô tả ở trên, các vật chất không sống chính là các viên gạch lót đường cho việc hình thành sự sống. Hay nói cách khác, trong một thời điểm nào đó của trái đất nguyên thủy cách đây 3,5 tỷ năm, các nguyên tố trong bảng hệ thống tuần hoàn hóa học kết hợp với nhau để hình thành sự sống.

THÍ NGHIỆM MILLER-UREY
Vậy có khả năng các nguyên tố kết hợp với nhau để tạo ra sự sống không? Khả năng này hoàn toàn xảy ra được nhờ vào một thí nghiệm nổi tiếng của Miller và Urey vào năm 1952 (https://en.wikipedia.org/wiki/Miller%E2%80%93Urey_experiment) . Trong thí nghiệm này, Miller đã thành công trong việc tạo ra acid amin từ nước, CH4, CH3 và CO2 . Để tránh việc ông Hưng mang cái định luật sự sống thuận tay trái của ông ta ra, hai dạng L và D của phân tử amino acid đều được Miller tạo ra.
Tôi xin mô tả thí nghiệm này như sau:


Hình vẽ sơ đồ thí nghiệm ở trên bao gồm 4 thành phần chính: bình cầu được đun nóng (1) tạo ra hơi nước, sau đó hơi nước này sẽ đi vào bình chứa hỗn hợp khí có trong bầu khí quyển sơ khai (2) và ở trong bình chứa khí này, một tia chớp điện được tạo ra để kích thích phản ứng xảy ra giữa các loại khí. Sau đó, hơi nước tiếp tục đi qua hệ thống lành lạnh (3) để ngưng tụ hơi nước. Hơi nước ngưng tụ sẽ tập trung vào ống (4) chứa hỗn hợp các hợp chất hữu cơ hòa tan trong nước.
Thí nghiệm này mô phỏng bầu khí quyển của trái đất sơ khai và kiểm tra xem bầu khí quyển chỉ chứa các khí đơn giản có thể tạo ra các hợp chất hữu cơ phức tạp hay không. Nếu để ý kỹ, chúng ta có thể nhận ra là quá trình mô phỏng này là hầu như lập lại chính xác một hiện tự nhiên rất thường thấy, đó chính là MƯA. Như hình dưới:


Khi nước biển bốc hơi lên do tác động của sức nóng từ mặt trời, hơi nước sẽ tích tụ trong bầu khí quyển. Khi bắt đầu mưa, sấm sét sẽ xuất hiện. Sấm sét sẽ làm các loại khí có trong bầu khí quyển phản ứng với nhau và hết hợp với hơi nước. Khi hơi nước rơi xuống tạo thành mưa, các phân tử khí và cùng với sản phẩm do phản ứng giữa chúng tạo ra sẽ rơi xuống mặt đất.
Như vậy, vấn đề mấu chốt cho phản ứng giữa các khí xảy ra là sấm sét. Sấm sét là một hiện tượng vật lý đã được hiểu biết rõ ràng (http://www.nasa.gov/audience/forstudents/k-4/home/F_What_Causes_Lightning_Flash.html) ; và điều quan trọng là sấm sét là một hiện tượng luôn xảy ra khi trời mưa. Như vậy, mưa là điều kiện vật lý để xảy ra sự tạo thành các hợp chất hữu cơ từ các khí đơn giản. Còn về mặt hóa học thì sao? Chúng ta sẽ xem xét các phương trình hóa học chứng tỏ rằng các sản phẩm được tạo ra từ các phản ứng đơn giản có thể tham gia vào các phản ứng để tạo ra các sản phẩm phức tạp hơn:
Từ các khí như CH4, CH3 và CO2 các phản ứng sẽ tạo ra 2 sản phẩm quan trọng là hydrogen cyanide (HCN) và formaldehyde (CH2O)
  •  CO2 → CO + [O] (atomic oxygen)
  • CH4 + 2[O] → CH2O + H2O
  • CO + NH3HCN + H2O
  • CH4 + NH3 → HCN + 3H2 (BMA process)


Sau đó, hydrogen cyanide (HCN) và formaldehyde (CH2O) phản ứng để tạo ra một loại acid amin là glycine
  • CH2O + HCN + NH3 → NH2-CH2-CN + H2O
  • NH2-CH2-CN + 2H2O → NH3 + NH2-CH2-COOH (glycine)

Và có rất nhiều sự kết hợp khác nhau nữa giữa các chất, những sự kết hợp này sẽ tạo ra các chất mới hơn và từ đó tổng hợp nên các loại acid amin. Tất cả các điều này xảy ra giống như là các hiện tượng vật lý và hóa học của tự nhiên diễn ra nhịp nhàng và ăn khớp với nhau vậy.

Vào năm 1961, khi lập lại thí nghiệm của Miller, Joan Oró đã tạo ra được nucleobase adenine, một trong 4 thành phần cấu tạo của DNA (adenine, thymine, uracil và cytosine) (http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/0003986161900339)

Toàn bộ thí nghiệm của Miller và Urey tiến hành vào năm 1952 được hậu thế ở thế kỷ 21 lập lại và thu được kết quả hoàn toàn tương tự. Có thể xem online tại đây: https://openload.co/f/kJJKU3nu9Hc/A_21st_century_adaptation_of_the_Miller-Urey_origin_of_life_experiments.mp4 (Nguồn: http://phys.org/news/2014-01-21st-century-miller-urey-life.html)
Hình ảnh kết quả của thí nghiệm Miller-Urey lập lại ở thế kỷ 21 lấy từ video trên



Không chấp nhận các bằng chứng hiển nhiên từ các thí nghiệm trên, ông Hưng vẫn tiếp tục tấn công: (https://viethungpham.com/2016/02/06/probability-of-lifes-spontaneous-generation-xac-suat-de-su-song-hinh-thanh-tu-phat/)


Làm thế nào để biết bầu khí quyển cách đây 3,5 tỷ năm như thế nào? Khi trái đất được hình thành cách đây 4,5 tỷ năm, toàn bộ bề mặt trái đất được bao phủ hầu như là nước. Nước bốc hơi lên và tạo thành mưa. Quy trình này xuất hiện từ khi trái đất được hình thành và được lập đi lập lại tới tận ngày nay. Từ lúc sơ khai của trái đất, nước bốc hơi lên, khi gặp bầu khí quyển, các thành phần trong bầu khí quyển sẽ hòa tan vào nước và nước mang các thành phần hóa học này xuống mặt đất dưới dạng tuyết hay mưa. Ở bắc cực, do vị trí nằm ở vùng cực, nên khí hậu rất lạnh và do đó, nước sẽ tích tụ thành băng. Theo thời gian, các lớp băng mới mang các thành phần hóa học của bầu khí quyển sẽ phủ lên lớp băng cũ hơn, mang thành phần hóa học của bầu khí quyển trước đó. Do đó, lớp băng càng sâu thì có lịch sử càng lâu. Và từ đó, nếu khảo sát các lớp băng sâu này, chúng ta sẽ xác định được các thành phần hóa học của bầu khí quyển của một khoảng thời gian nào đó trong quá khứ và các thành phần khí quyển này hầu như được bảo quản cực kỳ tốt theo thời gian.
Các nhà khoa học đã đi đến vùng cực để tìm hiểu. Họ đã khoan trên bề mặt của Bắc cực để thu các cột băng. Các cột này có thể có chiều dài vài ngàn mét. Nếu khoan càng sâu, chúng ta có thể nghiên cứu thành phần khí quyển cách đây càng xa xưa

Các nhà khoa học của NASA đang khoan các cột băng (http://earthobservatory.nasa.gov/Features/Paleoclimatology_IceCores/) . Các cột băng này, được gọi là ice core, sẽ được mang về một phòng thí nghiệm chuyên biệt là National Ice Core Laboratory ở Denver, Colorado để phân tích


Một mẫu ice core đang được xử lý


Các ice core sẽ được cắt ra theo từng vùng để phân tích thành phần hóa học, khí, tính chất vật lý, đồng phân và để lưu trữ


Các ice core sẽ được lưu trữ trong các ống như thế này

Như vậy, tôi vừa nói đến một công việc rất thầm lặng nhưng rất cao cả của các nhà khoa học khi thu thập dữ liệu về khí hậu trái đất sơ khai. Các độc giả có thể xem thêm ở đây http://icecores.org/about/index.shtml


KẾT LUẬN

Giải thích sự sống không phải là vấn đề của thuyết tiến hóa. Thuyết tiến hóa hoàn toàn chưa bao giờ đưa ra một nhận định nào để giải thích việc hình thành sự sống. Darwin cũng không bao giờ nói đến “nồi súp nguyên thủy” (Primordial soup). “Nồi súp nguyên thủy” là một khái niệm được Alexander Oparin đưa ra vào năm 1924 (https://en.wikipedia.org/wiki/Primordial_soup) . Nhưng ông Hưng lại áp đặt vô cớ cho Darwin (https://viethungpham.com/2016/02/06/probability-of-lifes-spontaneous-generation-xac-suat-de-su-song-hinh-thanh-tu-phat/)


Một trong những điều cần lưu ý là chúng ta hay nghe nói Darwin nói thế này, Darwin nói thế kia. Vậy thật sự Darwin có nói như vậy hay không? Trong thuyết tiến hóa sinh học có nêu chính thức điều đó hay không? Hay chỉ là những gán ghép một cách thiếu suy nghĩ của ông Hưng cho Darwin.
Giải thích việc hình thành sự sống là mở rộng thêm của tiến hóa (chứ không nằm trong thuyết tiến hóa, đây là 2 khái niệm rất khác nhau). Cơ thể chúng ta là vật chất, các phản ứng hóa học xảy ra liên tục dưới sự xúc tác của enzyme diễn ra trong cơ thể chúng ta làm cho chúng ta “sống”. Nếu chúng ta bứt một sợi tóc đang mọc và đốt dưới ngọn lửa, sợi tóc đó sẽ chỉ còn là một đống tro cấu tạo từ carbon. Ngoài ra, bằng việc khoan các ice core mà tôi đã giới thiệu ở trên, các nhà khoa học đã có các bằng chứng về bầu khí quyển của trái đất sơ khai. Và bằng thí nghiệm của Miller, với việc tái tạo bầu khí quyển sơ khai, đã tạo ra các acid amin mà đang tồn tại trong cơ thể chúng ta từ các vật chất “không sống”.

Như vậy, không phải toán học xác suất mà là ông Hưng đã bác bỏ tiến hóa dựa vào con số 1/10113 huyền bí không biết đến từ đâu. Rất nhiều bài bình luận trên Evolit cũng nói là xác suất bác bỏ tiến hóa hay xác suất tạo sự sống từ vật chất không sống gần như bằng không. Tôi cho là cái “xác suất” này là đến từ ông Hưng. Tại sao con số xác suất hình thành sự sống là 1/10113 lại không thể có được một tài liệu tham khảo. Trong khoa học, tất cả các số liệu đều phải có tài liệu tham khảo. Vậy con số mơ hồ này ở đâu ra? Không chỉ dừng lại ở đó, ông Hưng còn tạo dựng cả một định luật “The Law of Left-Handed Life”, trong khi định luật này chỉ tồn tại duy nhất trên chính blog của ông Hưng. Tôi thật sự ngỡ ngàng khi đây lại là việc làm của một người tự xưng là nhà khoa học. Bất kỳ ai có lý trí và tôn trọng chân lý có lẽ sẽ không phung phí niềm tin vào sự bịa đặt của ông Phạm Việt Hưng.

T.N.

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Copyright 2012 - Evolit. Được tạo bởi Blogger.

Ảnh đại diện

Ảnh đại diện
Một ý tưởng thay đổi thế giới

Text Widget

EVOLIT LÀ THƯ VIỆN CÁC TÀI LIỆU VỀ TIẾN HÓA VÀ SINH HỌC

Hãy tìm đến:
Evolit.tk
Tienhoa.tk

Bất cứ khi nào bạn không truy cập được vào EvoLit, hãy nhớ www.sinhtienhoa.blogspot.com

Evolit ở chỗ khác

follow me on youtube

About Me

Căn bản

Bấm CC, chọn Vietnamese để xem phụ đề TIẾN HÓA LÀ GÌ?
BẰNG CHỨNG TIẾN HÓA
“Không gì trong sinh học có ý nghĩa trừ khi có ánh sáng của tiến hóa” - Theodosius Dobzhansky
“Không gì trong sinh học có ý nghĩa trừ khi có ánh sáng của tiến hóa” - Theodosius Dobzhansky

THÔNG BÁO DỜI NHÀ

Để tăng cường an ninh và tạo môi trường sạch đẹp hơn, EvoLit đã chuyển sang www.sinhtienhoa.wordpress.com , mời đồng bào sang ủng hộ. Blo...

Blog sạch

MyFreeCopyright.com Registered & Protected